Friday, August 19, 2022

BẠO CHÚA

 

 

BẠO CHÚA

Phạm Đình Trọng

18-08-2022   21:31

https://www.facebook.com/kesiviet/posts/pfbid021Ru6VP4EMz8XbCQGyxPjo2dhi1BHa9W9SZQWp4KNwEYksvTL2FgGatkXmwsYBXS2l

 

1.

Văn hoá là trí tuệ. Khoa học là khám phá, sáng tạo. Người thực sự có văn hoá không thể coi thường giá trị văn hoá, không thể coi thường sáng tạo nghệ thuật. Chỉ người ngu dốt, không thể tiếp nhận kiến thức văn hoá, văn hoá thực sự thấp kém mới rẻ rúng, coi thường giá trị văn hoá, mới ngạo mạn mang bạo lực quyền uy ra ứng xử với sáng tạo nghệ thuật.

 

Kí lệnh tiêu huỷ tác phẩm nghệ thuật chỉ vì một lỗi nhỏ xíu và rất thông thường về thủ tục hành chính là trưng bày tác phẩm nghệ thuật chưa trình báo để có giấy chấp thuận của cơ quan quản lí hoạt động văn hoá. Thứ quyền lực kí lệnh tiêu huỷ tác phậm nghệ thuật rõ ràng quá hợm quyền, quyền lực lấp đầy con người, choán hết cả con người. Chỉ có con người quyền lực. Không có con người văn hoá. Hoàn toàn trống vắng, thiếu hụt vốn văn hoá thường trực. Văn hoá thấp kém thảm hại mới coi thường, rẻ rúng giá trị nghệ thuật đến như vậy, coi tác phẩm nghệ thuật như rác rưởi tuỳ tiện tiêu huỷ!

 

Ông Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Phó Chủ tịch thành Hồ, Dương Anh Đức kí lệnh tiêu huỷ 29 tác phẩm nghệ thuật chỉ vì 29 tác phẩm trưng bày cho công chúng thưởng thức mà chưa đúng thủ tục hành chính thì chữ kí của ông Phó Giáo sư, ông Tiến sĩ là lời tố cáo đanh thép, là sự thú nhận xác đáng cái học hàm Phó Giáo sư, cái học vị Tiến sĩ chỉ là tờ giấy lộn, chỉ có danh Phó Giáo sư, Tiến sĩ mà không có thực nền tảng văn hoá, không có thực nhân cách văn hoá.

 

Chữ kí tiêu huỷ 29 tác phẩm nghệ thuật đã phơi bày ra con người văn hoá trống rỗng ở con người có học hàm Phó Giáo sư, có học vị Tiến sĩ. Học hàm Phó Giáo sư, học vị Tiến sĩ là bằng cấp của người có học. Nhưng kí lệnh tiêu huỷ tác phẩm nghệ thuật thì chắc chắn là phẩm chất của người không học!

 

Ở thời loạn giá trị, mọi giá trị đều đảo lộn. Mọi bằng cấp đều mua được thì bằng cấp không thể là chứng chỉ trung thực của giá trị văn hoá. Không phải bằng cấp mà là ứng xử với giá trị văn hoá, ứng xử với sáng tạo nghệ thuật, ứng xử với con người mới là bằng chứng đích thực của một nhân cách văn hoá. Tiêu huỷ 29 tác phẩm nghệ thuật bởi bất cứ lí do gì đều là ứng xử vô văn hoá.

 

2.

Ở thời xã hội không có dân chủ, người dân không có quyền con người, không có quyền công dân, không được tự do bầu chọn người thực sự đại diện cho người dân quản lí nhà nước và xã hội, mọi chức vụ có được không phải do đức độ, tài năng và trí tuệ mà chỉ là sự thoả thuận, chia chác, sắp đặt trong bóng tối, sau lưng người dân.

 

Ở thời loạn giá trị, mọi giá trị đều đảo lộn. Mọi bằng cấp đều mua được mới nảy nòi ra ông Phó Giáo sư Tiến sĩ kí lệnh tiên huỷ tác phẩm nghệ thuật.

 

Ở thời không có dân chủ, người dân không có quyền con người, không có quyền công dân, người dân không được làm chủ xã hội không được làm chủ đất nước mới nảy nòi ra ông Phó Chủ tịch thành phố phụ trách văn hoá mà kí lệnh tiêu huỷ tác phẩm nghệ thuật, tiêu huỷ giá trị văn hoá.

 

Nghệ thuật làm đẹp tâm hồn con người. Nghệ thuật thuộc phạm trù cái đẹp. Chỉ có tâm hồn tăm tối và độc ác mới run sợ và thù ghét cái đẹp. Chỉ có bạo chúa mới đủ tối tăm và độc ác tiêu huỷ cái đẹp. Kí lệnh tiêu huỷ 29 tác phẩm nghệ thuật, ông phó chủ tịch thành phố lớn nhất nước đã hiện hình là một bạo chúa, một quan cai trị không được người dân trao quyền lực, không mang gương mặt văn hoá đất nước mà chỉ mang ý chí của bộ máy cai trị, chỉ là sự sắp đặt, chia phần chiếc ghế quyền lực áp đặt bộ máy cai trị lên đầu dân.

 

3.

Mảnh đất miền Nam là mảnh đất khai phá của những nghĩa khí và những tâm hồn rộng mở và bao dung. Có nghĩa khí mới sẵn sàng đương đầu với mọi thử thách nghiệt ngã của miền đất hoang sơ của sức mạnh thiên nhiên và sức mạnh thú rừng. Có rộng mở mới đi đến cùng trời cuối đất. Có bao dung mới chấp nhận mọi cá tính con người, những kẻ lạc loài cùng khai phá miền đất mới và dung nạp, hài hoà với những giá trị văn hoá của cộng đồng xa lạ.

 

Miền Nam là đất nghĩa khí và bao dung thì Sài Gòn là nơi hội tụ của nghĩa khí và bao dung. Nghĩa khí và bao dung làm nên cá tính con người miền Nam, con người Sài Gòn. Nghĩa khí và bao dung cũng làm nên nghệ thuật miền Nam, nghệ thuật Sài Gòn.

 

Có chính trị cực đoan, độc tài nhưng nghệ thuật không thể cực đoan, độc tài, không thể độc tôn một phong cách nghệ thuật. Độc tôn một phong cách nghệ thuật là giết chết nghệ thật. Một thời các nước xã hội chủ nghĩa độc tôn phong cách nghệ thuật hiện thực xã hội chủ nghĩa đã dẫn nghệ thuật xã hội chủ nghĩa chui vào ngõ cụt, mất trắng gần một thế kỉ không có thành tựu nghệ thuật, huỷ hoại nhiều thế hệ nghệ sĩ. Những tài năng lớn phải né tránh hiện thực xã hội chủ nghĩa mới có tác phẩm đóng góp cho kho tàng văn hoá nhân loại.

 

Có cực đoan, độc tài chính trị mới có thảm hoạ cải cách ruộng đất, thảm hoạ cải tạo tư sản, thảm hoạ Nhân Văn Giai Phẩm. Quyền lực kí lệnh tiêu huỷ 29 tác phẩm nghệ thuật là sự tái hiện của quyền lực đấu tố địa chủ, đấu tố tư sản, đấu tố Nhân Văn Giai Phẩm ở những năm tháng ngột ngạt, đen tối, bạo lực tràn lan, xã hội ai oán trong bạo lực cách mạng và hận thù giai cấp. Một thời chỉ thấy ngạo nghễ con người quyền lực tàn bạo mà không có con người lịch lãm văn hoá, không có con người hồn hậu nhân văn.

 

Một con người nhỏ nhen, hẹp hòi và độc ác hấp tấp kí lệnh tiêu huỷ tác phẩm nghệ thuật chỉ xứng là bạo chúa của thời mông muội xa xưa, không xứng là người dân bình thường và lương thiện của mảnh đất nghĩa khí và bao dung Sài Gòn, Nam Bộ.

 

Ảnh: https://www.facebook.com/photo/?fbid=1954568411411196&set=a.121692098032179

Ông Phó Giáo sư, Tiến sĩ kí lệnh tiêu huỳ 29 tác phẩm nghệ thuật.

Học hàm Phó Giáo sư, học vị Tiến sĩ là bằng cấp của người có học. Nhưng kí lệnh tiêu huỷ tác phẩm nghệ thuật thì chắc chắn là phẩm chất của người không học!

 

Tuesday, August 16, 2022

NƯỚC ĐỨC, THÁNG 7 NĂM 1990

  

 

 

 

 

NƯỚC ĐỨC, THÁNG 7 NĂM 1990

 

NGUYỄN DUY

 

Thành phố Thanh Hoá, ngày 9/11/2014

 

Tháng 6.1990, sau khi dự Hội thơ Puskin do Hội Nhà văn Liên Xô mời, tôi bị kẹt lại Maxkva vì chưa có vé bay về Việt Nam. Nhờ Đại sứ quán Việt Nam giúp đỡ, tôi được giới thiệu đi viết phóng sự về đề tài “ hợp tác lao động ”ở các nước Đông Âu XHCN. Lấy Praha (Tiệp Khắc) làm điểm đứng chân, tôi xoay vòng Ba Lan, Hungari, Đông Đức…Tình cờ đúng vào dịp Đông –Tây Đức thống nhất tiền tệ, 1/7/1990. Suốt một tuần lễ, hoặc lên Đông Berlin, hoặc nằm chờ tại nhà người em bà con là kiến trúc sư Phạm Ngọc Kỳ, ở thành phố Dresden, tôi chứng kiến cuộc đổi tiền lịch sử để thực sự thống nhất nước Đức. Bức tường Berlin đã bị phá vỡ từ ngày 9/11/1989, nhưng các trạm gác Đông –Tây vẫn tồn tại sau đó và được tháo dỡ hoàn toàn vào tuần lễ đổi tiền đầu tháng 7.1990. 7/7, ngày được nhận những đồng D-Mark mới toanh, chú em tôi mới có tiền dẫn tôi sang Tây Berlin, ngao du bằng xe buýt và đi bộ… Phóng sự Đông Âu Du Kí của tôi đăng 9 kì trên báo Lao Động (tháng 9 & 10.1990). Riêng 2 bài thơ thời sự về đề tài bức tường Berlin và nước Đức đổi tiền, tôi phải giấu biệt, giấu kĩ đến mức chính tôi cũng không biết mình giấu chỗ nào và quên bẵng. Vừa rồi, tình cờ lôi đống giấy vụn cũ kĩ thanh lí, chợt khai quật được 2 bài thơ này. Mừng quá, xin công bố hôm nay, 9/11/2014, nhân kỉ niệm 25 năm ngày Bức Tường Berlin sụp đổ.

 

Tiền & Máu

 

 

Những trạm gác Đông – Tây sấp ngửa lật nhào

xe bọc thép chở tiền nối đuôi lao như điên

tổng tấn công ?

nước Đức đổi tiền !

 

đồng mark miền Tây ăn đồng mark miền Đông

nghìn tỉ mark in ra

nghìn tỉ mark tiêu huỷ

 

cháy ?

cháy ?

cháy ?

cháy biết bao nhiêu giấy !

 

khói lửa đốt tiền đủ làm mù đất trời

lãng phí thay ?

nhưng tiết kiệm biết bao nhiêu máu người!

 

tro tiền bay như tiếng hò reo

nội chiến lạnh kết thúc

ứa nước mắt mừng thanh bình nước Đức

 

triệu tấn tiền mua mỗi chữ t-h-ố-n-g-n-h-ấ-t

cái giá quá đắt ?

nhưng quá bèo so với chiến tranh !

Dresden, 7.7.1990

 

 

 

Chợ trời

 

 

Cổng Brandenburg phanh trần

chợ kỉ vật chiến tranh bày la liệt cảm xúc

 

mũ sắt các sắc lính – giá đồng hạng 5 USD

sao đỏ hồng quân và phù hiệu SS phát xít – giá đồng hạng 7 USD

cờ đỏ búa liềm và phướn thập ngoặc đen – giá đồng hạng 10 USD

 

…

mảnh tường Berlin bằng bàn tay con nít

giá trên trời – 20 USD !

 

ta dốc túi nghiến răng mua mẩu tường Berlin

những mong mang về làm quà

cho dân tộc mình.

 

 

 

 

 

NƯỚC ĐỨC, THÁNG 7 NĂM 1990

 

NGUYỄN DUY

 

Thành phố Thanh Hoá, ngày 9/11/2014

 

Tháng 6.1990, sau khi dự Hội thơ Puskin do Hội Nhà văn Liên Xô mời, tôi bị kẹt lại Maxkva vì chưa có vé bay về Việt Nam. Nhờ Đại sứ quán Việt Nam giúp đỡ, tôi được giới thiệu đi viết phóng sự về đề tài “ hợp tác lao động ”ở các nước Đông Âu XHCN. Lấy Praha (Tiệp Khắc) làm điểm đứng chân, tôi xoay vòng Ba Lan, Hungari, Đông Đức…Tình cờ đúng vào dịp Đông –Tây Đức thống nhất tiền tệ, 1/7/1990. Suốt một tuần lễ, hoặc lên Đông Berlin, hoặc nằm chờ tại nhà người em bà con là kiến trúc sư Phạm Ngọc Kỳ, ở thành phố Dresden, tôi chứng kiến cuộc đổi tiền lịch sử để thực sự thống nhất nước Đức. Bức tường Berlin đã bị phá vỡ từ ngày 9/11/1989, nhưng các trạm gác Đông –Tây vẫn tồn tại sau đó và được tháo dỡ hoàn toàn vào tuần lễ đổi tiền đầu tháng 7.1990. 7/7, ngày được nhận những đồng D-Mark mới toanh, chú em tôi mới có tiền dẫn tôi sang Tây Berlin, ngao du bằng xe buýt và đi bộ… Phóng sự Đông Âu Du Kí của tôi đăng 9 kì trên báo Lao Động (tháng 9 & 10.1990). Riêng 2 bài thơ thời sự về đề tài bức tường Berlin và nước Đức đổi tiền, tôi phải giấu biệt, giấu kĩ đến mức chính tôi cũng không biết mình giấu chỗ nào và quên bẵng. Vừa rồi, tình cờ lôi đống giấy vụn cũ kĩ thanh lí, chợt khai quật được 2 bài thơ này. Mừng quá, xin công bố hôm nay, 9/11/2014, nhân kỉ niệm 25 năm ngày Bức Tường Berlin sụp đổ.

 

Tiền & Máu

 

 

Những trạm gác Đông – Tây sấp ngửa lật nhào

xe bọc thép chở tiền nối đuôi lao như điên

tổng tấn công ?

nước Đức đổi tiền !

 

đồng mark miền Tây ăn đồng mark miền Đông

nghìn tỉ mark in ra

nghìn tỉ mark tiêu huỷ

 

cháy ?

cháy ?

cháy ?

cháy biết bao nhiêu giấy !

 

khói lửa đốt tiền đủ làm mù đất trời

lãng phí thay ?

nhưng tiết kiệm biết bao nhiêu máu người!

 

tro tiền bay như tiếng hò reo

nội chiến lạnh kết thúc

ứa nước mắt mừng thanh bình nước Đức

 

triệu tấn tiền mua mỗi chữ t-h-ố-n-g-n-h-ấ-t

cái giá quá đắt ?

nhưng quá bèo so với chiến tranh !

Dresden, 7.7.1990

 

 

 

Chợ trời

 

 

Cổng Brandenburg phanh trần

chợ kỉ vật chiến tranh bày la liệt cảm xúc

 

mũ sắt các sắc lính – giá đồng hạng 5 USD

sao đỏ hồng quân và phù hiệu SS phát xít – giá đồng hạng 7 USD

cờ đỏ búa liềm và phướn thập ngoặc đen – giá đồng hạng 10 USD

 

…

mảnh tường Berlin bằng bàn tay con nít

giá trên trời – 20 USD !

 

ta dốc túi nghiến răng mua mẩu tường Berlin

những mong mang về làm quà

cho dân tộc mình.

Monday, August 1, 2022

HẠNH PHÚC

 

  ·

HẠNH PHÚC

Nguyên Ngọc

Tôi có một chuyện cay đắng về hạnh phúc, mà lại ở Tây Nguyên, nơi tôi gắn bó hơn nửa cuộc đời và yên trí đã hiểu đến tận cùng. Sự thể là ngày ấy, vậy mà thấm thoắt đã mười bảy năm, chúng tôi làm một bộ phim về Tây Nguyên và anh đạo diễn bỗng nảy ý tưởng độc đáo không sử dụng diễn viên chuyên nghiệp vào các vai chính, chỉ mời đúng người dân tộc tại chỗ. Lặn lội khắp cao nguyên từ cực bắc đến cực nam, cuối cùng chọn được hai cô gái Ba Na thật đẹp, cô em, xin gọi là H’Lan, năm ấy mười bảy, rực rỡ đến chói chang, cô chị, cũng xin gọi là H’Nga, mười chín, đằm thắm, đậm đà. Ngày ấy cao su quốc doanh chưa nhiều và lấn vào sát làng như bây giờ, các gia đình vẫn còn được ít rẫy, hôm chúng tôi đến hai chị em vừa ở rẫy về, đang tắm ngoài giọt nước đầu làng. Ở Tây Nguyên người ta gọi bến nước của làng là “giọt”, kể cũng hơi lạ, dòng nước trong và khỏe gần như bất tận được dẫn từ núi cao về theo một hệ thống những thân tre chẻ đôi nối vào nhau thô sơ mà khéo léo, có khi quanh co đến năm bảy cây số trong rừng, cuối cùng đổ ra thành hàng chục vòi, mát lạnh đến tê người những chiều hè oi nồng chưa tắt hẳn nắng, lại phảng phất mùi vị không thể lẫn của rừng sâu, thoảng thôi nhưng thấm tận da thịt. Nước tuôn ra mạnh hơn cả nước máy thành phố, sao gọi là giọt? Thì ra ở lâu mới biết, bến nước đầu làng, với người Tây Nguyên đi xa, hay người Tây Nguyên nay không còn làng, sẽ mãi mãi nhỏ từng giọt kỷ niệm cả kiếp không nguôi, vào tận đáy tâm hồn. H’Lan, bây giờ đã là một người đàn bà đẫy đà ba con mỗi lần gặp chúng tôi vẫn thường nhắc lại cái buổi chiều ấy, mười bảy năm trước, khi chúng tôi ra tìm em ở giọt, cô gái đang mặc nguyên cả quần áo vậy mà tắm, mơn mởn, tươi mát, khỏe mà mềm, rực rỡ mà dịu dàng. Nghe chúng tôi về “bắt người đi đóng phim”, cô sợ quá vùng té chạy. Đám con trai cũng đang tắm ở giọt, mình trần, chỉ mỗi chiếc khố, phô những múi thịt cuồn cuộn đen bóng đẫm nước, phá lên cười giòn tan…

Ừ vậy mà đã mười bảy năm…

H’Nga và H’Lang đi cùng chúng tôi hơn bốn tháng. Vào vai không đặc biệt xuất sắc, nhưng có những điều rất nhỏ diễn viên chuyên nghiệp học mấy cũng không bằng. Như cách vén váy sà xuống cạnh bếp ở góc nhà sàn, một chút buông thả mà kín đáo, xếp hai chân về một bên, và khẽ nghiêng đầu thổi bùng ngọn lửa vẫn âm ỉ ngày đêm; cách đứng dậy, gọn, khỏe, khoát dây gùi lên vai, bên này rồi bên kia, bước ra hiên, thoăn thoắt xuống cầu thang, gùi nặng thế mà thong dong đến lạ; hay buổi chiều tà ở rẫy về, cất tiếng ót ót gọi heo thả rong, và nhìn đàn heo rối rít ùa về như mẹ âu yếm đón đàn con… Trong nghệ thuật vốn vậy, chính những điều nhỏ tưởng không đáng kể đó tạo nên mùi vị không thể thay thế của tác phẩm…

Cuối cùng rồi phim cũng xong, đoàn giải tán. Tôi có tham gia đôi lần những đoàn làm phim như vậy, tôi biết, ba bốn tháng thôi, mà cảm giác rất dài. Bởi vì suốt những ngày tháng ấy người ta không chỉ đi cùng nhau, làm việc cùng nhau, ăn ở cùng nhau; mà còn cùng nhau, cố tình lôi kéo nhau, người ta còn đắm đuối, cố tình tự đánh chìm mình vào một cuộc sống khác hẳn ngoài đời, quyết liệt hơn, hạnh phúc hơn, đau đớn hơn, biết là giả chứ nhưng lại thật hơn thật vì sự tích tụ và cường độ cực cao của nó…

Rồi phim xong. Đột ngột. Bao giờ cũng đột ngột. Đột ngột màn hạ xuống. Một giấc mơ, một cơn mê dài đột ngột được đánh thức. Những người chuyên nghiệp, dạn dày sân khấu, chừng nào đã quen. Nhưng còn hai cô gái Ba Na của tôi? H’Nga ngơ ngác: Hết rồi sao bác? Em hỏi. Hết rồi thật. Ngày mai các cô sẽ trở về làng. Tôi ở trên này đã lâu, tôi biết cuộc sống đang chờ đợi các cô trở về không giống như trong phim các cô cùng chúng tôi vừa dựng, đúng hơn là vừa “sống”, mê đắm. Mà bây giờ, trở về, điều gì đang chờ các cô?… Hầu như có thể chắc chắn, mươi năm nữa, cũng chẳng cần lâu đến thế đâu, chỉ năm ba năm, nhớ tìm về thăm, tôi sẽ gặp hai người đàn bà trên rẫy, vẫn còn phảng phất nét đẹp xưa, nhưng sẽ khác lắm, cháy nắng, con – đứa thứ mấy? – địu trễ nãi trên lưng, đến chiếc áo bạc màu cũng chẳng cần cài cho hết cúc, mặc cho vú vê chảy dài lòng thòng… Tôi cũng biết điều đó, cái cảnh hầu như sẽ chắc chắn đó, sẽ chẳng là gì cả trong hạnh phúc mà họ vui nhận trong cuộc đời, thanh thản, bình yên… Nhưng có thể giúp họ tìm đến một hạnh phúc khác không, một hạnh phúc mới mà họ có thể và xứng đáng được hưởng… Bây giờ nhớ lại, quả thật tôi rắp tâm thực hiện một kế hoạch, mà tôi tin. Ở thiện chí trong sáng của mình. Tin ở điều thật sự tốt lành sẽ đem lại được cho những người tôi suốt đời yêu quý. Còn hơn thế, biết đâu một con đường hạnh phúc mới mẻ có thể mở ra cho bao người nữa trên này, cũng quá xứng đáng được có như hai cô…

Tôi có một anh bạn là giám đốc một cơ quan cấp tỉnh, cơ quan ấy có một cái nhà khách. Anh sẵn sàng nhận ngay hai chị em vào làm ở đấy, cả chị vợ anh cũng hăng hái đồng tình. Chính chị lo lắng thu xếp cho các cô vừa làm vừa học. Thậm chí chúng tôi còn trù tính các bước tiếp theo cho hai cô sau giai đoạn có thể là tạm thời ở nhà khách này. Không ai nói ra, dường như không dám nói hẳn ra, nhưng quả thật chúng tôi mong muốn đưa các cô “đi xa” hơn nhiều. Một cuộc đổi đời, tại sao không?… Không dám nói, vì nó đẹp quá, cái tương lai mong ước ấy, mà cái đẹp ở đời bao giờ cũng mong manh. Lại nữa… nhưng mong ước của chúng tôi, của tôi, cho hai cô, cho người khác, theo cách nghĩ của tôi, tôi có quyền không? Ta có quyền hình dung một cách hạnh phúc của mình suy ra, cho người khác không? Lo lắng không nhiều, mong ước tốt lành át đi tất cả…

Xong xuôi, tôi trở về Hà Nội, đinh ninh đã làm một việc “đúng lương tâm”, đúng cả tâm huyết lâu dài vẫn ấp ủ với vùng đất và người đã thành ruột thịt. Cũng có lúc lại thoáng vẩn lên đôi chút băn khoăn: chúng tôi đang làm một cuộc thử nghiệm, mà có thể là thử nghiệm với cả cuộc đời hai con người. Thực tế hay phiêu lưu… Hồi hộp chờ…

… Bận công việc đi xa một thời gian, vừa trở về, vội gọi điện ngay cho anh bạn giám đốc. Bên kia đầu dây, giọng anh rõ ràng là buồn, cả giận nữa:

- Chúng nó đi hết rồi!

- Ai? Đi đâu?

- Ai nữa! Hai chị em. H’Lan theo một đoàn ca nhạc dưới vùng biển lên biểu diễn. Con em đi, con chị cũng bỏ về nhà luôn. Nghe nói đã theo một tay buôn gỗ nào đó tận miền Tây Nam Bộ lên. Cũng đi mất rồi.

- Đi đâu?

- Về tuốt trong miền Tây…

Tôi vội bay lên. Không gặp. Hỏi thăm, chỉ có những tin tức mơ hồ. Đi tìm, bặt tăm…

Suốt hai năm.

Rồi họ trở về. H’Nga về trước. Với một cái bụng chửa. Không cần hỏi cũng biết, tay buôn gỗ nọ đã có vợ ở nhà rồi. Cô gái về, sụp xuống lạy cha: Cha giết con đi, con muốn chết. Ông già ngồi suốt ngày ngơ ngác nhìn nắng. Chỉ thầm thì mãi một câu: “Người Kinh dữ quá!…”.

Di dân lớn lên Tây Nguyên. Bây giờ người Kinh rất nhiều. Ông không hiểu, ông sợ.

Một năm sau, H’Lan cũng trở về. Cũng lại mang về cho ông già một đứa cháu không cha.

Tôi đã biết hai cô gái trong suốt bốn tháng các cô đi cùng đoàn phim. Cô chị, H’Nga, đằm thắm, vẻ ngoài trầm tĩnh. Mà đôi mắt rất ướt. Rất đa tình, và rất kín đáo. Đúng hơn, dồn nén. Ở đoàn, thỉnh thoảng cô lại bị lên cơn. Cũng có hôm đột ngột bỏ đi, chúng tôi bổ đi tìm, cuối cùng gặp ở một làng cô có họ hàng xa cách đến hàng trăm cây số. Tôi có biết, có ngờ đâu, tôi làm sao hình dung một cô gái như vậy khi gặp một tay buôn gỗ lậu lang thang trên Tây Nguyên đang bị khai phá tràn lan. H’Nga gặp tay giang hồ ấy chính tại nhà khách của cơ quan anh bạn tôi, dân buôn gỗ lậu bây giờ tất không thể không có quan hệ với những nơi như vậy. Tôi dở quá, tôi chẳng đoán trước được điều gì cả. Tôi có lo thì là lo nhiều hơn cho cô em, H’Lan, rực rỡ quá, mơn mởn quá, lại không trầm tĩnh được bằng chị. Rực rỡ và bồng bột… Hóa ra cả hai chị em, trầm lắng hay cháy bỏng, chẳng ai thoát được hậu quả cuộc toan tính hạnh phúc của chúng tôi, của tôi đầy thiện chí nhất quyết thu xếp cho họ. Cuộc sống dữ dằn đã dứt họ ra khỏi mưu sự đầy tham vọng mà ngây thơ đến tệ hại của chúng tôi. Của tôi. Và đập nát cuộc đời họ.

Đập nát, tôi không nói quá đâu. Gần đây tôi có trở lại. H’Nga đau ốm liên miên, xơ xác. Cậu con trai không có cha nay đã là một chàng thiếu niên khôi ngô. Cháu chỉ học xong cấp một rồi nhất định ở nhà làm rẫy nuôi mẹ. H’Lan thì đã ba đời chồng, bốn mặt con, chẳng đứa nào có cha, cuối cùng lấy một anh chàng Ba Na, gia đình có vẻ yên ổn hơn, nhưng cả hai vợ chồng đều thất nghiệp. Giọt nước đầu làng không còn. Rừng trên đầu nguồn bị phá hết, còn nước đâu mà dẫn về. Từ lâu ở nơi xưa là giọt nước thương yêu, đã mọc lên một cây me, cành lá xum xuê. Tại gốc me ấy bây giờ là một cái “chợ lao động”, thanh niên Ba Na thất nghiệp suốt ngày ngồi ở đấy, hút thuốc vặt, mòn mỏi chờ các ông bà chủ người Kinh đến thuê làm bất cứ công việc gì. Mà họ cũng không còn nhiều sức đâu. Buồn, uống rượu, rượu cần không còn, rượu cần là thứ người ta ủ công phu, gửi cả tâm hồn, cả linh hồn vào đấy, khi người ta sống vui, thoải mái, và hy vọng, tin, tin cuộc đời, tin ngày mai, khi người ta yêu, tin tình yêu… Không còn ruợu cần, uống rượu trắng của người Kinh thôi, thứ rượu hung dữ, đốt cháy tâm can. Rồi rượu trắng cũng không đủ tiền mua, bèn mua cồn pha ra mà uống. Mòn mỏi tới cả giống nòi…

Vậy đó, cuộc thử nghiệm hay ho của tôi. Về hạnh phúc. Hóa ra rất có thể độc ác, phá nát cuộc đời người ta với tình yêu chân thành và mưu tính hạnh phúc đẹp đẽ cho người khác bằng toan tính độc đoán và kiêu căng của mình.

Tôi không chối tội, nhưng có phải chỉ có riêng tôi?

Từng có, còn có bao nhiêu kế hoạch to lớn, hùng hồn về hạnh phúc từng được toan tính, và áp đặt, bằng nhiều cách, trong suốt lịch sử lâu dài của con người…

12- 2012