Wednesday, July 1, 2026

Hương khói một thời ( NDM )

 

 

Hương khói một thời

 

Nguyễn Đặng Mừng



Nhà chị tôi cách trường Nguyễn Hoàng khoảng 400 m. Hè năm 1970, tôi ra ở nhà chị để thi vào trường NH. Thời đó học trò trường tư chỉ có 5 % được thi tuyển vào lớp 10 trường NH. Nhà chị  tôi có cái giếng  trong, cà xóm đều tới đó gánh nước. Anh chị tôi thường đi vắng. Tôi ra giếng treo võng đọc sách dưới tàng cây ổi. Buổi chiều, có con bé khoảng lớp tôi gánh đôi thùng tới, giọng trong veo, “anh chi đó ơi cho em xin đôi nước”. Tôi cười và nói cô tự nhiên. Tôi lại đọc sách tiếp, giả đò không thèm để ý con gái, nam nhi mà. Cô ấy múc đầy nước, rồi chào anh em về nghe. Chữ “nghe” cao lên, lảnh lót như tiếng chim.  

 

Em quẩy thùng nước đi rồi mới thấy lòng mình chao động theo bước chân trần, chơi vơi nhịp gánh. Hai thùng nước đầy sóng sánh có mấy vệt nước rơi vãi ra ngoài. Thương chi lạ.

 

Đêm lại mơ tưởng, mộng mị lung tung, ba giờ sáng tôi đã thức giấc, nằm lơ mơ nghe từng tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ quả lắc. Con gà gáy tiếng rất khàn. Con gà trống mạ tôi gửi để ăn mừng ngày tôi xong đệ nhất cấp, nó có biết vài ngày nữa chết không, mà gáy tiếng khàn khàn buồn bã thế.

 

Rồi chiều mai cũng tới, nhưng chậm hơn, do lòng mình cứ ngóng trông. Bốn giờ chiều tôi đã tắm rửa, chải tóc, mặc bộ đồ đẹp nhất ra dưới tàng cây ổi “đọc sách”. Hôm đó đọc Gió Đầu Mùa của Thạch Lam…, chẳng có chữ nào vào đầu, chỉ trông chờ em gánh nước. Nước đầy cả giềng, cần chi xin. Nhưng em vẫn lễ phép, “anh chi đó ơi, cho tui xin đôi nước”. Tôi bật dậy khỏi võng chào em lí nhi : “Cô cứ tự nhiên”. Em cười, cái răng khểnh như nở hoa sau làn môi đỏ mọng. “Anh học trường mô”. Tôi ngập ngừng không biết trả lời sao cho thân thiện, bèn nói đại : “Niên khóa tới tôi sẽ học Nguyễn Hoàng”. Nói rồi mới thấy mình dại, mới thi xong chắc chi đã đậu. “Anh học ban chi. Em cũng học lớp 10, ban B”. Lỡ rồi, nói đại luôn, “Tui học ban C”. “Hi hi, Mấy anh ban C là lãng mạn lắm”.  Đứng đối diện thành giếng, em vừa múc nước vừa chuyện trò. Cái áo rộng cổ của em hé một chút bờ ngực mỗi lần em cúi xuống múc nước. Nói thiệt, từ nhỏ tôi chưa bao giờ thấy bờ ngực trần con gái. Hồi đó con gái ăn mặc kín đáo lắm. Tôi trân người, cuốn sách trên tay rơi xuống nước. Tôi xấu hổ sợ em biết ý đồ của tôi. Mà tôi có ý đồ gì đâu, chỉ “chộ” chớ không phải cố nhìn.

 

Ngày sau rồi ngày sau nữa, em vẫn tới gánh nước, nhưng luôn mặc áo sơ mi gài nút tới cổ. Chúng tôi vẫn nói chuyên trên trời dưới đất. Có lần nói chuyện đến 20 phút. Cô em thấy chị lâu về bồng em chạy ra tìm, hỏi “răng lâu rứa, mạ la tề”. Cô chị nói dối, “Đang hỏi anh về… bài thơ…”. Cô em lườm cái bồng em quay đi. Em lại cười, “chào anh em về. Khi mô rảnh qua nhà em chơi, ba mạ em quý bạn bè em lắm”. Trời, sướng muốn xỉu.

 

Những tưởng đời vui lắm. Ai ngờ !

 

Em đi học cùng đường với tôi, mặt có khi như lạ, như quen. Đôi mắt trong veo đen láy khi cười rạng rỡ, khi buồn hiu hắt, xa xôi. Chạm mặt nhau chỉ gật nhẹ đầu. Không ai chào ai, như người lạ. Con gái Quảng Trị “nết na”, oan nghiệt thế, mới đau. Đôi guốc cao gót làm dáng em khoan thai hơn, như rướn người lên trong tà áo dài tha thướt. Sáng nào tôi cũng ra đầu ngõ canh em rồi theo sau, cách khoảng vài chục thước cho an toàn. Thế mà em cũng biết, thỉnh thoảng quay lui, cười nhẹ cái.

 

Cho đến một ngày, em khóc rống lên, ở nhà xác Tiểu khu QT, ba em chết trận. Tôi đứng ngoài hàng rào kẽm gai, thấy em vật vã, em cúi xuống lạy cha, em bật lên hung dữ. Tôi không còn thấy chiếc răng khểnh, không tơ tưởng gì đến cây ổi, và giếng nước ngày thơ. Tôi khóc nức nở vào chiều đông năm ấy, đạp xe theo quan tài đi trong mưa gió, hơn mười cây số về quê em. Tôi lại đạp xe một mình trong mưa gió chạy về cho kịp, thời đó ban đêm không ai dám ra đường.

 

Ôi. Tôi  sẽ đến nhà em như lời hẹn ước, như lời mời hồn nhiên của Em. Phải chi còn Ba, nhỉ.

 

Mấy ngày đi học không có em phía trước, buồn và thương em đứt ruột. Đầu tuần lại thấy em đi học với chiếc khăn tang. Gặp tôi đầu ngõ em chỉ khóc, không nói gì. Vẫn em đi trước, tôi theo sau. Mắt tôi nhòe đi. Bóng áo trắng như dải khăn tang chấp chới phía trước, lao đao lung linh lờ mờ nhang khói. 

 

Chiều về em lại qua gánh nước. Em lặng lẽ múc nước. Nghe rõ tiếng nước lách tách trào ra chảy ngược xuống giếng. Đôi vai em mệt mỏi theo từng tao giây gàu. Chiếc khăn tang trễ xuống trên vầng trán hanh hao. Đôi mắt buồn rượi nhìn tôi không nói gì. Tôi hỏi câu vô duyên : “Bài vở em có theo kịp không”.  Em nói : “Em không thiết học hành gì nữa, chắc em nghỉ học để lo cho các em”.

 

Lần cuối em gặp tôi vào một đêm trăng, em đi gánh nước trễ hơn. Em nói “mai em về quê với Mạ, để hương khói cho Ba, và săn sóc ôông mệ nội, gần tám mươi tuổi rồi. Em phải bỏ học. Nhớ trường nhớ bạn lắm nhưng biết mần răng đặng chừ. Bé Lĩnh (tên đứa em gái) gửi lại cho Dì để tiếp tục đi học. Em còn hai em gái nhỏ, Mạ một mình mần răng lo nỗi. Tội nghiệp ôông mệ, chưa có cháu trai đích tôn. Em về quê, sáng đi học anh có còn nhớ em không. Sáng mô em đi học cũng có ý chờ anh, và biết sau lưng khi mô cũng có anh theo. Em biết anh thương mạ con em. Hôm đang quỳ làm lễ trước quan tài ba, thấy anh cứ lấp ló nhìn em, rồi anh lên lúc mô không hay. Em chạy ra đường anh đã xa rồi. Thấy anh đạp xe chạy trong mưa thương lắm”. Bé Lĩnh chạy qua nói, “ Chị ơi, Mạ nói chị cứ nói chuyện với anh đi, mai nhà mình về làng rồi, để em gánh nước về cho”. Tôi  không nói được câu nào, chỉ cầm tay cùng em khóc miết. Tôi đưa em một đoạn về nhà, em bảo, “mời anh vô nhà đi, đừng sợ, từ ngày Ba mất mạ cứ nhắc anh đó, vô đi”. Tôi theo em vào nhà. Di ảnh của Ba em khói hương nghi ngút. Mạ em đang thắp nhang, quay ra “chào cháu”. Tôi vẫn đứng yên lí nhí “dạ”. Em bảo, “Anh thắp nhang cho Ba đi”, em đưa tôi cây nhang, tôi vái lạy rồi quay ra cùng gia đình ăn chè đậu huyết. Mạ em nhìn tôi sửng sốt, hỏi “Cậu tên gì” “Dạ tên M”. “Năm ni cậu mấy tuổi”. “Dạ mười bảy”. Bà nói : “Con trai tuổi Tỵ là gian nan lắm, bác trai cũng tuổi Tỵ, hơn cậu hai giáp, nhọc nhằn cả đời, cho đến lúc chết tiền lương tháng trong bóp vẫn còn nguyên, chưa tiêu đồng mô hết”. Con Mai tuổi Ngọ, chắc đời con cũng như đời Mạ”. Bà hưng hức khóc. Mai và Lĩnh cũng nhòe nước mắt. Bà chậm rãi “Con Mai và con Lĩnh sinh ở đây, bác trai nói đặt tên Mai Lĩnh để mai lớn khôn biết nhớ núi nhớ sông, “Núi Mai, Sông Lĩnh”, nhớ nguồn cuội của mình là dân Quảng Trị”.

 

Hai tuần vắng em, đêm nào tôi cũng nằm chiêm bao thấy em chít khăn tang khóc vật vã. Có khi thấy em cười như mếu, chiếc răng khểnh như búp hoa nhài chưa nở  mà sao héo buồn thế. 

 

Sáng  chủ nhật hôm đó tôi đạp xe mười câu số về làng em. Tháng hai trời còn mưa bấc. Đằng xa, làng em mù mù lũy tre. Lúa thì con gái gợn sóng run rẩy theo từng luồng gió bấc.

 

Tôi đứng rất lâu trước ngõ, nghe tiếng hò ru em vẵng ra từ mái nhà tôn :

 

Ru em em thét cho muồi
Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu……..
Kim may hò áo đứt rồi
Tiếc công thầy mẹ đứng ngồi…. chọn kim

Ạ ơ ờ….

Mạ bồng con ra ngồi cầu Ái Tử
Vợ trông chồng lên núi vọng phu
Biết răng chừ bóng xế trăng lu
Con ve kêu… rồi… mùa hạ, biết mấy thu….gặp chàng
”.

 

Tiếng hò ru em xóm quê buồn như tiếng khóc. Tôi dắt xe đi vào sân kêu, Mai ơi. Tiếng hò im bặt. Em chạy ra, trân nhìn tôi. Mắt chớp chớp, hai giọt nước mắt lăn chậm trên gò má ửng chút hồng. Em gầy đi quá. Tôi hỏi, “Mạ đi mô’. “Dạ đi chợ”. “Đi chợ Quán chợ Cầu hả…Mai hò hay lắm”. Em thành thật : “Về đây mỗi lần ru em lại nhớ anh. Hồi ở trên tỉnh, em không dám hò vì sợ “quê” với anh”. “Anh cũng quê mà. Mai hò tiếp cho anh nghe đi”. Em ngửng lên, cười nhẹ “Thì anh hò đi, Mai nghe”.  Tôi hò một bài, em cười, bảo “Anh hò hay lắm, nhưng có chỗ sai lời”.  Em lại cầm tao nôi, mái tóc nghiêng xuống trên chiếc nôi tre, con bé đang thiu ngủ giật mình khóc. Em lại dỗ dành, giọng hiền như mẹ, rồi cất giọng, tiếng à ời dài ra, càng về sau càng mềm đi, nhỏ đi như chỉ còn hơi thở.  Ạ ơ hờ….“Em thương anh, hái dâu quên giỏ, bứt cỏ quên liềm / Xuống sông gánh nước, đôộc chìm… gióng trôi.... ”. Em lại khóc nức lên, hai tay úp mặt cúi đầu, tóc rủ xuống rung theo từng nhịp nấc. Tôi để tay lên vai em, an ủi : “Đừng khóc, buồn lắm. Anh có mang về cuốn truyện Kiều tặng em”. Em nói trong tiếng nấc : “ Kiều, Kim Trọng chi nữa anh ơi. Đêm nằm ngủ em cứ mơ đang đi học, lại thấy anh thất thểu theo sau. Bữa nay anh đừng về nữa, không an toàn mô. Thôi, anh lên đi. Có dịp em ghé thăm anh, và bạn bè”.

 

Tôi nắm tay em, bàn tay lạnh run run. Em kéo tay lại, nhắc : “Anh lên liền đi, buổi chiều ở đây thỉnh thoảng hai bên rình bắn nhau đó”. Em tiễn tôi ra cổng, đứng nhìn theo. Tôi đạp xe như điên trong mưa bấc. Ngoái lui thấy bàn tay em vẫy vẫy, rồi hình ảnh em nhèo đi trong mưa, lũy tre đen thẫm lại.

 

Anh rể tôi biết chuyện tôi trốn về thăm em, kêu tôi lại nghiêm mặt bảo; “Cậu dám về làng P à, cậu có biết ở đó nguy hiểm không. Nếu cậu tái phạm thêm lần nữa tôi sẽ mách Ba”. Tôi lý nhí nhận tội và hứa không về quê em nữa.

 

*

 

Một năm, năm rưỡi… Tôi vẫn đi học một mình. Nhìn tà áo nào cũng có hình dáng em. Chiều nào tôi cũng treo võng dưới cây ổi, bên giếng nước đọc sách, nhìn ra cánh đồng hướng nhà em. Tiếng súng, khói bom làm tôi thót tim. Tiếng gàu múc nước ai đó cũng rốn rảng như vũ khí chiến tranh. Cũng có những buổi chiều yên ắng, mây lang thang bay từ đông về tây, trên cao vời, mà gió Lào thì thổi ngược lại. Đọc thơ Hàn Mặc Tử, hơn bao giờ hết tôi thấm đẩm hồn thơ :

Gió theo lối gió, mây đường mây….”

Và ngọn gió nồm mát rượt hiếm hoi, như mang tiếng hò em về, ngọt ngào mà cay đắng :

Kim may hò áo đứt rồi
Tiếc công thầy mẹ đứng ngồi chọn kim…”

*

 

Mùa hè năm 1972, súng đạn mù trời. Bà con Quảng Trị dắt díu nhau chạy loạn, tứ tán người một phương.

 

Vào trại tạm cư Đà Nẵng tôi đi tìm khắp, từ Hòa Khánh về Non Nước, chẳng biết gia đình em ở phương mô. Một hôm đang lang thang trên bãi biển Hòa Long, nghe tiếng gọi, “anh M”. Quay lại  thấy mấy cô nữ sinh Nguyễn Hoàng mặc đồng phục áp dài trắng đang đi dạo trên bờ biển. Một cô la lên : “Anh M phải không, Lĩnh đây nì”. Lĩnh chạy đến trước mặt tôi, cặp vở ôm nghiêng trước ngực, cúi đầu nói lí nhí, “Mạ và chị Mai chết rồi anh nờ. Em ở với dì có xe nhà binh nên đi trước, không chờ Mạ được. Nghe người ta kể, thấy Mạ, Chị Mai và hai em chết ở cầu Dài….”

 

Trời đất như quay vòng, tôi quỵ xuống cát. Lĩnh ngồi xuống bên, gục đầu lên gối. Hai anh em im lặng, tấm tức  khóc. Tháng mười, trời vần vũ cơn giông, sấm chớp và biển động. Ầm ào gió rít. Mưa ập xuống. Chúng tôi vẫn ngồi thế, trong mưa. Những hạt mưa bắn vào da đau rát, nhòe những vệt cát như những loạt đạn bắn xối xả. Rồi từng dòng, từng dòng nhỏ ngoằn ngoèo chảy thành dòng lớn hơn,  từ từ trôi xuống biển.

 

Mưa ngớt, hai anh em ướt sủng đi dọc bờ biển. Mai tôi đi lính rồi, chưa biết bao giờ về lại Quảng Trị. Lĩnh đi bên thỏ thẻ, “anh M này, ra trường nhớ về cùng Lĩnh đi tim xác Mạ, chị Mai và các em nghe anh… Anh nì, đêm nào Lĩnh cũng mơ thấy đi gánh nước cùng chị Mai. Có khi em rình, thấy anh chị cầm tay nhau, về méc Mạ. Mạ nói, kệ tụi hắn, lớn chút nữa con sẽ hiểu. Giờ em hiểu rồi thì không còn chị để xin lỗi. Mai anh đi, Lĩnh không có gì tặng anh làm kỷ niệm, Lĩnh hát nghe”.

 

Sóng ầm ào, mưa lâm thâm, giọng hát trầm, buồn thảm như lời nguyền, một lời hẹn xa vời không định trước : “Ngày mai anh đi, biển nhớ tên anh gọi về….” Và Mai nữa, anh sẽ về tìm Mai Lĩnh, tìm hồn sông núi, quê hương.

 

Nguyễn Đặng Mừng 

“VÔ VỌNG VỀ DÂN TỘC VIỆT"

 

 

Đạo diễn Trần Văn Thuỷ: “VÔ VỌNG VỀ DÂN TỘC VIỆT"

 

Khoa Phan

May 14 at 11:15 PM ·

Đạo diễn Trần Văn Thuỷ: “VÔ VỌNG VỀ DÂN TỘC VIỆT"

PV: Anh đi khắp nơi như vậy, chứng kiến cuộc sống của người Đức, Pháp, Bỉ hoặc Anh, Ý…, điều gì làm anh xao động nhất?

TVT: Cái cảm giác đè nặng bên trong tôi là vô vọng về dân tộc Việt. Tôi nói điều này thì cũng không đúng lắm, có thể là thất lễ và mất lòng nhiều người, nhưng nó là sự thật.

Tôi xin nói, thật lòng như thế này: Khi còn ở trong nước, tôi cứ nghĩ các khuyết tật mà xã hội Việt Nam có, thí dụ quan liêu, cửa quyền, bắt người khác giống mình, áp đặt ý kiến, là do cơ chế của một thứ “chủ nghĩa Xã Hội”.

Sau này ra ngoài, đi nhiều, tiếp xúc nhiều, nhất là những báo chí của phe chống cộng đủ thứ, tôi thấy không ít chuyện kinh hoàng. Ai mà không giống mình thì dằn mặt, đòi đánh hoặc bắn.

Thế tôi mới ngỡ rằng cái bệnh hiếp đáp nhau, dẫm đạp lên nhau, bắt người khác phải phục tùng mình, phải chăng là chứng bệnh của dân tộc Việt Nam.

Nếu như đó là bệnh của một chế độ chính trị thì có thể sửa được. Khi nó không còn hiện diện hoặc thay đổi thì những điều xấu ấy mất đi. Nhưng nếu đó là những khuyết tật của dân tộc thì thật là điều đau đớn vô cùng.

Nếu chỉ tính từ thế kỷ XV với sự xuất hiện của nhân vật Nguyễn Trãi, đến nay có thể nói qua gần năm thế kỷ, có nhiều chuyện gần như ta phải làm lại từ đầu.

Đè nặng lên tôi nhất vẫn là cái cảm giác dân tộc mình khó mà khá lên được, khó lòng đuổi kịp các nước, dù là những nước trung bình trên thế giới. Đó là sự thật, ai càng yêu nước càng buồn nhiều.

PV: Chúng ta có thể đi xa hơn một chút được không? Hiện tình là vậy thì lỗi lầm bắt đầu từ đâu?

TVT: Câu hỏi của anh làm tôi nhớ lại một lần đối thoại ngắn ngủi với một nhà báo cộng sản Pháp. Trong một buổi chiêu đãi báo chí tại Hà Nội cuối năm 1987, nhà báo nọ nâng ly chúc mừng hai bộ phim của tôi (“Hà Nội Trong Mắt Ai” và “Chuyện Tử Tế”) được công chiếu.

Rồi ông nhún vai bảo rằng: “Nhưng công bằng mà nói, các ông đổ lỗi cho chính phủ, cho nhà nước của các ông nhiều quá”.

Tôi hỏi: “Ông là người ngoại quốc, có thể ông có cái nhìn tinh tế hơn”?

Ông ta lại nhún vai: “Cũng chẳng có gì đáng gọi là tinh tế cả. Phương ngôn Pháp của chúng tôi có câu: “Nhân dân nào, chính phủ nấy”. Các ông rất xứng đáng với chính phủ của các ông!”

PV: Thế nhưng tại sao anh lại nhắc đến Nguyễn Trường Tộ trong hai tập phim? Anh chờ đợi gì ở hình ảnh đó?

TVT: Như mọi người đều biết, dưới triều Tự Đức, Nguyễn Trường Tộ đã điều trần như thế nào mà cuối cùng cũng bị bỏ qua. Đừng quên rằng lúc ấy sự chênh lệch giữa hai nước Việt Nam và Pháp về nhiều phương diện không lớn như bây giờ.

Khoảng cách giữa văn minh và lạc hậu cũng không quá xa như bây giờ. Lúc ấy chúng ta không bị tụt lùi lại như hiện nay đang đứng hàng cuối cùng trong tính số của Liên Hợp Quốc.

Tôi lấy “sự kiện Nguyễn Trường Tộ” làm mốc thời gian vì tôi muốn so sánh thật sự trình độ của Việt nam, tương quan của Việt Nam với thế giới lúc Nguyễn Trường Tộ làm điều trần với hôm nay, nếu quan niệm rằng một công trình khoa học, một bài báo, một vở kịch, một cuốn phim,… đều là những bản điều trần kiểu mới. Qua đó mới thấy mình tụt quá xa!

Vừa rồi đi dạo ngang qua nhà thờ chính ở Frankfurt này, nghe nói nó đã được xây từ 500 năm rồi. Ở xứ mình chẳng có gì anh ạ. Cứ triều đại này lên thì đạp nát hết cái cũ, cuối cùng đất nước bị tàn phá tan tành hết, không còn gì.

PV: Lúc thực hiện phim, anh đã gặp bao nhân tài Việt Nam. Giả sử nhân tài Việt Nam được trọng dụng, đất nước sẽ khá lên chứ?

TVT: Tất nhiên là khá chứ! Tuy nhiên từng người Việt Nam một thì rất khá không kém ai, nhưng nếu người Việt gộp lại thì có khi chẳng làm được gì cả.

Còn làm sao để đất nước khá lên, phải có một thể chế xã hội, kinh tế, chính trị hỗ trợ cho việc phát huy tài trí.

Nếu bây giờ chúng ta có một chính phủ tiến bộ thật sự, tôi nghĩ rằng điều đầu tiên cần làm ngay là phải gấp rút xây dựng một bộ luật, đưa vào luật của những nước tiến bộ, dựa trên nghiên cứu truyền thống, phong tục đạo đức của dân tộc.

Tập trung mọi sức lực làm chuyện đó xong rồi tập trung ngay vào việc giáo dục luật pháp cho dân chúng, từ già đến trẻ nhỏ. Làm cật lực trong 5 năm, y như việc xóa nạn mù chữ trong thời kháng chiến chống Pháp.

Tôi nghĩ đó là còn đường ngắn nhất để xã hội Việt Nam trở thành một xã hội tiến bộ, tích cực, phát huy được mọi tài năng.

Nếu làm được điều ấy thì hóa chăng sau này không còn phe phái nào, lực lượng nào có thể dắt mũi dân tộc này đi vào con đường sai lầm.

Nhưng tôi nghĩ đó chỉ là ảo tưởng, một điều ước xa vời. Những người có quyền, chuyện đầu tiên họ nghĩ là củng cố quyền lực của họ, quy luật của trò chơi mà anh.

Nếu một bộ máy nhà nước chỉ nghĩ đến mục đích duy nhất là làm sao cho người dân sống sướng, sống khá lên, con người thương yêu nhau hơn, hiền hòa, hướng (thiện hay thương?) thì chắc tình hình bây giờ đã khác.

Tôi nói điều này với nỗi đau của riêng tôi. Trong những năm chiến tranh 66-67-68, trên đường vào chiến trường miền Nam, đi qua vùng tuyến lửa Vĩnh Linh, tôi thấy sự hy sinh to lớn khủng khiếp của con người.

Anh biết không, ban đêm bất chấp mưa bom, pháo sáng sáng rực, xe bị lầy, dân ở đây đã gỡ cửa nhà, bàn ghế đem ra lót cho xe vượt lầy. Ngồi trên xe mà thấy nhói trong tim.

Lẽ ra sau khi chiến tranh kết thúc, dân vùng này chắc chắn phải được miễn thuế trong nhiều năm hoặc một chính sách đãi ngộ hợp lí nào đó, hay là một sự chia sẽ tối thiểu.

Thế nhưng tôi vô cùng thất vọng khi những năm sau trở lại vùng này, dân ở đây lại sống lầm than hơn xưa và vẫn tiếp tục là nạn nhân của chế độ quan liêu cửa quyền, vẫn nghèo xác xơ.

PV: Trong tất cả những khái niệm, từ ngữ thường được dùng đến bây giờ, như “tự do”, “độc lập”, “hạnh phuc”, “dân chủ”, “tình thương”, “cách mạng”, “vĩ đại”, “vinh quang”, “nỗi đau”, “căm thù”, “hòa giải”, “đoàn kết”…, từ ngữ nào đối với anh có ý nghĩa nhất?

TVT: Tôi có thể nói ngay với anh rằng một cái từ mà chúng ta phải phụng sự – mà đó là một từ cũ rích – từ “con người”.

Chúng ta hãy trở về với những từ thật đơn giản, nguyên thủy hơn, như từ “con người”. Trong muôn loài thì có loài người. Trong rất nhiều loại con thì có “con người”. Trong vũ trụ thì con người chỉ là một thực thể nào đó.

Nếu Lưu Quang Vũ còn sống, chắc anh còn viết được nhiều hơn về những điều này. Từ những tác phẩm cách đây 10-15 năm, Vũ đã từng viết: “Đừng có đánh mất mình tức là đừng có đánh mất con người”.

Nhìn kỹ lại cách mạng của Pháp 1789, đến nay đã 200 năm, lịch sử cũng không làm điều gì khác hơn là vật lộn với con người. Hãy tránh dùng mỹ từ anh ạ.

PV: Thế còn anh nghĩ gì về 'đổi mới'?

TVT: Câu hỏi này làm tôi nhớ lại câu hỏi của nhà báo Úc đã hỏi tôi cách đây hơn 2 năm sau liên hoan phim ở Đã Nẵng.

Anh biết không, lúc đó tôi trả lời là không riêng gì tôi mà phần lớn bạn bè của tôi đều nghĩ rằng: “Đổi mới tức là trở lại một số những cái cũ đã bị vùi dập hoặc bỏ quên”.

Đơn giản thôi, ông thấy cái gì đổi mới tại Việt Nam?

Tư nhân thì được kinh doanh, bác sỹ thì được mở phòng mạch, thầy giáo đôi nơi thì được mở trường tư, in lại sách cũ, trình bày lại một số nhạc phẩm thời xưa, mở rộng một số chính sách về đối ngoại, cho một số được đi du học hoặc du lịch tự túc… thì tôi thưa với ông rằng trước 75 tại miền Nam hay ở Hà Nội trước 54, tất cả những cái đó đều không phải là chuyện gì cả!

Như thế thì rõ ràng, đổi mới là trở lại những cái cũ đã bị bỏ quên chứ còn gì nữa. Nghe xong câu trả lời cà chớn đó của tôi, ông ta mỉm cười.

PV: Tôi nhận thấy trong tất cả những phim của anh mà tôi được xem từ trước đến giờ, anh rất thích dùng một chữ mà bản thân tôi cũng rất thích, đó là chữ “Tâm”. Trong “Hà Nội Trong Mắt Ai”, thì có ngòi bút tả Thiên Thanh, viết lên trời xanh một chữ tâm, trong “Thầy Bói Xem Voi” thì có “nếu tâm còn sáng”… Anh có thể khai triển thêm được không?

TVT: Chuyện này coi vậy mà nó lai rai lắm anh ạ! Sau nhiều năm chiến tranh, xã hội Việt Nam chúng ta có nhiều đổ vỡ về vật chất lẫn tinh thần.

Đổ vỡ vật chất – nói cho cùng – nếu chúng ta có chính sách đúng đắn tận dụng nhân tài, tranh thủ được đầu tư của trong nước lẫn ngoài nước thì cũng có thể dần dần khôi phục được.

Nói đến chữ “Tâm” tức là nói đến đạo đức xã hội, nói đến lòng người. Nhưng sụp đổ tinh thần sau bao năm chiến tranh, sau bao nhiêu sai lầm, tôi e rằng không bao giờ có thể xây dựng lại được.

Đối với người Việt Nam, cái mất mát lớn nhất bây giờ là lòng tin. Giả sử bây giờ nếu có ngoại xâm lần nữa, tôi ngờ ít mấy ai sẵn sàng hy sinh tất cả, sẵn sàng đem hết tất cả những gì mình có ra làm chướng ngại vật chống chiến xa như hồi kháng chiến chống Pháp năm 1946.

Người ta đã qua nhiều lần hy vọng rồi lại thất vọng, nên nếu ngay như bây giờ có một minh quân xuất hiện thì cũng chả có mấy ai tin.

Cái khó nhất hiện nay trong xã hội Việt Nam là làm sao khắc phục được lòng người. Đó là chữ “Tâm”.

PV: Có một ý nữa chung quanh chữ “Tâm”, anh còn nhớ người nhạc sĩ mù trong “Hà Nội Trong Mắt Ai”? Mắt có thể mù nhưng lòng còn trong sạch, tức là tâm còn sáng, thì vẫn còn có thể thấy được những điều mà người khác chưa chắc đã thấy.

TVT: Kỳ rồi, trong một cuộc phỏng vấn ở Anh, người ta đã hỏi tôi “điều gì làm tình hình Việt Nam khó đến như vậy”?!

Vì tôi không phải là người nghiên cứu kinh tế, chính trị, nên tôi chỉ có thể trả lời họ bằng những cảm nhận của một người làm điện ảnh có cơ hội cọ xát với nhiều giới.

Thật ra mình có thể kể cho họ về đủ thứ nguyên nhân – kinh tế, chính trị, lịch sử, dân trị… – nhưng với tôi, nguyên nhân lớn nhất hiện nay làm cho xã hội Việt Nam trì trệ là bệnh “SỢ” vẫn đang bao trùm.

Người ta đánh mất chính mình, người ta sống không thật. Nếu những người lãnh đạo mà có những cố vấn trung thực thì đất nước mới khá lên được.

Anh còn nhớ trong “Hà Nội Trong Mắt Ai”, trong đoạn về Quang Trung, tôi có nói rằng: “Quốc gia chỉ có thể trường tồn và hưng thịnh khi kẻ thường dân dám nói với bề trên điều ngay thẳng và người có quyền uy phải biết nghe kẻ dưới mình điều phải trái.”

Thật ra tôi chưa dám bàn tới chữ “Tâm” vì chữ “Tâm” còn cao hơn thế! Một đạo đức trung bình của xã hội như lòng trung thực mà còn chưa có thì miễn bàn về chữ Tâm”.

Cóp từ FB Tuệ Lãng

Tuesday, June 30, 2026

BA CUỘC CHIA CẮT- BA CÁCH TRỞ VỀ

 

BA CUỘC CHIA CẮT- BA CÁCH TRỞ VỀ

Kieu thi An Giang

(Thấy gì từ sự thống nhất qua ba quốc gia Đức, Hàn, và Việt Nam)

-

Tôi là người chứng kiến hai cuộc “thống nhất” của hai quốc gia. Một quốc gia tôi được sinh ra. Một quốc gia tôi trưởng thành và cũng là quê hương thứ hai của tôi.

Khi giải phóng miền nam, tôi còn nhỏ, hầu như không có dấu ấn gì đặc biệt. Ngoài việc bà tôi năm nào cũng nuôi một đàn lợn béo như tranh, để “thằng An giải phóng miền Nam về cưới vợ”. Ngày cờ đỏ sao vàng bay trên nóc dinh Độc lập, bà giết hết lợn, khao cả xóm.

Và cậu tôi không về nữa…

Thống nhất nước Đức thì tôi đã đủ nhận thức để hiểu chuyện gì xảy ra. Không phải với tư cách người đương thời, mà là, cái nhìn tỉnh táo của người đi qua hai cuộc chiến của hai quốc gia mà tôi đều yêu thương gọi là Tổ quốc.

Xin có vài nhận định thế này:

I. Khi đất nước bị chia làm hai: nỗi đau không của riêng ai

Trên bản đồ chính trị thế giới hiện đại, hiếm có quốc gia nào trải qua một nỗi đau lịch sử giống nhau đến thế: cùng một dân tộc, một ngôn ngữ, một cội rễ - lại bị chia đôi bởi những đường vĩ tuyến, bức tường bê tông, hay dòng sông lịch sử.

Ba quốc gia: Việt Nam, Đức, và Triều Tiên - là ba minh chứng rõ ràng nhất cho vết cắt chiến tranh để lại.

• Việt Nam: chia cắt từ năm 1954 theo Hiệp định Genève, sau chiến thắng Điện Biên Phủ.

• Đức: chia cắt sau Thế chiến II, thành Đông và Tây Đức - hai nửa đại diện cho hai cực của Chiến tranh Lạnh.

• Triều Tiên: sau năm 1953, Hiệp định đình chiến thiết lập đường ranh giới quân sự giữa Bắc - Nam tại vĩ tuyến 38.

Nhưng điều đặc biệt nằm ở chỗ: trong khi Bắc - Nam Hàn vẫn tiếp tục đối đầu căng thẳng như hai kẻ thù truyền kiếp, thì Đức đã thống nhất trong ôn hòa, còn Việt Nam thì về một mối bằng một cuộc chiến tranh kéo dài suốt hai thập kỷ.

Vì sao lại khác biệt đến thế?

II. Đức và Việt Nam: Hai con đường thống nhất- hai số phận hậu chiến

1. Cách thức thống nhất: Bạo lực hay đối thoại?

Việt Nam (1975)

Việt Nam thống nhất sau một cuộc chiến dài hơn 20 năm. Chiến tranh kết thúc ngày 30/4/1975 bằng chiến thắng quân sự của miền Bắc. Dù được ghi nhận là một chiến thắng “giải phóng dân tộc”, nhưng đây cũng là một thống nhất bằng vũ lực.

Cái giá phải trả là rất lớn: khoảng 3 triệu người Việt Nam thiệt mạng (tính cả quân và dân hai miền), hơn 300.000 liệt sĩ phía Bắc, và hàng trăm ngàn quân nhân miền Nam thiệt mạng hoặc mất tích.

Đức (1990):

Ngược lại, Đức thống nhất mà “không tốn một viên đạn.” Sự kiện Bức tường Berlin sụp đổ vào ngày 9/11/1989 là kết quả của phong trào biểu tình ôn hòa, sự tan rã của Liên Xô, và khát vọng tự do của người dân Đông Đức.

Ngày 3/10/1990, nước Đức thống nhất về mặt pháp lý: Cộng hòa Dân chủ Đức (Đông Đức) chính thức sáp nhập vào Cộng hòa Liên bang Đức (Tây Đức), với mô hình dân chủ và kinh tế thị trường.

2. Thái độ với bên kia sau thống nhất

Việt Nam:

Sau thống nhất, chính quyền mới ở miền Nam được tái cơ cấu toàn diện dưới mô hình XHCN. Hàng trăm ngàn quân nhân, công chức chế độ cũ bị đưa vào trại cải tạo - có người bị giam nhiều năm.

Cải tạo công thương nghiệp tư nhân, cải tạo tư tưởng văn hóa cũng được triển khai.

Một số chính sách được thực hiện với mục đích “xây dựng xã hội mới”, nhưng để lại tổn thương dai dẳng, nhất là ở những người từng sống và phục vụ chế độ Sài Gòn.

Đức:

Dù trên thực tế Tây Đức là bên “thắng cuộc”, nhưng nhà nước Liên bang Đức không tiến hành trả thù.

Chính sách “hòa nhập, không loại trừ” được triển khai:

• Cán bộ, công chức Đông Đức được xem xét tái hòa nhập.

• Chỉ một số ít bị loại trừ do liên quan đến Stasi - cơ quan mật vụ Đông Đức.

• Không có trại cải tạo, không có án tù hàng loạt.

3. Chi phí tái thiết: Ai chịu gánh nặng?

Đức:

Sau thống nhất, Tây Đức chấp nhận gánh toàn bộ chi phí tái thiết Đông Đức- một vùng đất trì trệ, thiếu hạ tầng và tụt hậu kinh tế.

• Chính phủ chi hơn 2.000 tỉ euro trong ba thập kỷ để hiện đại hóa miền Đông.

• Thuế đoàn kết (Solidaritätszuschlag) được áp dụng từ năm 1991- người dân Tây Đức phải đóng thêm 5,5% thuế thu nhập để hỗ trợ miền Đông.

• Các thành phố như Leipzig, Dresden, hay Erfurt dần hồi sinh, nhưng khoảng cách phát triển vẫn chưa xoá hẳn.

Việt Nam:

Sau thống nhất, Việt Nam bước vào giai đoạn bao cấp, bị cấm vận từ phía Mỹ và phương Tây, chiến tranh biên giới với Campuchia (1978) và Trung Quốc (1979) càng làm nền kinh tế kiệt quệ.

• Từ 1975 đến 1985 là giai đoạn cực kỳ khó khăn, lạm phát ba chữ số, thiếu đói diện rộng.

• Phải đến Đổi mới 1986, Việt Nam mới bắt đầu phục hồi kinh tế bằng cách chuyển sang kinh tế thị trường định hướng XHCN.

• Hơn 10 năm sau chiến tranh mới thực sự mở cửa giao thương, và đến năm 1995, quan hệ Việt- Mỹ mới được bình thường hóa.

III. Bắc- Nam Hàn: Một vết rạn chưa lành

So với Đức và Việt Nam, bán đảo Triều Tiên là biểu tượng của sự chia cắt chưa thể hàn gắn. Hai miền vẫn ở trong trạng thái chiến tranh lạnh, dù Hiệp định đình chiến đã ký từ 1953, thậm chí đối đầu, “kẻ thù truyền thống”…

• Không có thống nhất.

• Không có tiến trình hòa giải thực chất.

• Triều Tiên và Hàn Quốc phát triển theo hai hướng hoàn toàn đối lập: một bên độc tài khép kín, một bên dân chủ thịnh vượng.

Thậm chí đến hôm nay, Hàn Quốc và Triều Tiên vẫn không có đại sứ quán tại nhau, đường dây nóng chỉ hoạt động trong thời gian ngắn, và mỗi khi có sự kiện chính trị lớn, căng thẳng quân sự lại gia tăng.

IV. Nhìn lại: Thống nhất không phải là đích đến

Không có con đường thống nhất nào là hoàn hảo.

• Đức mất 30 năm và hàng ngàn tỉ euro để Đông - Tây hòa nhập.

• Việt Nam phải hy sinh rất nhiều, cả về người, về thời gian phát triển, và những vết thương tâm lý chưa lành.

• Triều Tiên - Hàn Quốc thì vẫn đang sống trong nỗi chờ đợi mỏi mòn.

Nhưng điều quan trọng là: thống nhất chỉ là điểm khởi đầu.

Quan trọng hơn là chúng ta đối xử với quá khứ như thế nào.

• Khoan dung không có nghĩa là quên.

• Nhìn thẳng vào lịch sử không có nghĩa là kết tội.

• Một quốc gia trưởng thành là quốc gia biết học từ nỗi đau - để không ai bị bỏ lại phía sau.

V. Và hôm nay, chúng ta viết tiếp trang sử ấy…

40 ĐIỀU VÔ LÝ CHỈ CÓ Ở VIỆT NAM

 

40 ĐIỀU VÔ LÝ CHỈ CÓ Ở VIỆT NAM

 

Ở Việt Nam có những thứ và những điều vô cùng vô lý nhưng vì những thứ đó đang ở Việt Nam nên ai cũng cho rằng nó có lý và không có vấn đề gì. Có những thứ và những điều mà chỉ có ở Việt Nam, không có nước nào có. Hy vọng nhiều người sẽ nhận ra. Danh sách như sau:

1 — Sổ hộ khẩu. Trên thế giới chỉ có 3 nước áp dụng chính sách này, cả 3 nước đều là 3 cường quốc của thế giới, là 3 thiên đường, là đỉnh cao trí tuệ nhân loại. Đó là đại cường quốc Trung Quốc, tiểu cường quốc Việt Nam và siêu cường quốc …..Bắc Hàn. Tôi thật sự không hiểu nổi mục đích của cái sổ hộ khẩu là gì, trừ việc làm mồi kiếm ăn cho mấy anh chị Công An. Nếu bạn nào có thế giải thích trong 1 câu “tại sao chúng ta lại có sổ hộ khẩu” tui chết liền. Ở xứ khác khi sinh ra chỉ có giấy khai sinh rồi lớn lên làm cái thẻ, hộ chiếu. Vài nước thì dùng bằng lái xe làm chứng minh. Muốn đi đâu thì đi, nước của mình mà. Tại sao mỗi lần chuyển địa phương là phải đi khai tạm trú, KT3. Mấy cái này là gì tui hiểu tui chết liền. [Ku Búa đã viết rất chi tiết về Hộ Khẩu trong bài ”Hộ Khẩu: một thứ khôi hài, vô lý và ngu ngốc.”]

2 — Đi mua xe đi đăng ký tên mình phải dùng sổ hộ khẩu và về đăng ký tại nơi thường trú (nơi đăng ký hộ khẩu). Nó vô lý ở chỗ này. Bạn là dân Lạng Sơn chuyển công tác vô làm ở Cà Mau, bạn muốn mua xe máy và đứng tên bạn, lỡ xe có bị trộm thì người ta biết xe đó là của mình. Nhưng ở Việt Nam thì nếu mua ở Cà Mau thì dân Lạng Sơn phải chở xe về Lạng Sơn đăng ký. Có cái nước nào khác trừ Việt Nam làm vậy không? Có ai biết thì nói nha, tại tui khờ lắm, hiểu biết về thế giới bên ngoài Việt Nam kém nữa.

3 — Cảnh sát giao thông kiểm tra xe nếu không có đủ giấy tờ sẽ bị giam xe. Tại sao người lái xe phải chứng minh xe đó là của người lái? Sao CSGT không chứng minh điều ngược lại. Phi logic. Còn việc giam xe thì tui chưa biết xứ nào khác làm vậy hết.

4 — Thuế “chuyển đổi mục đích sử dụng đất”. Tui chưa biết xứ nào khác có cái thuế quái dị như vậy. Đây là loại thuế làm cản trở quá trình công nghiệp hóa của đất nước. Bạn là một nông dân có 100 mét vuông đất nông nghiệp. Bạn muốn dùng 50m2 đó để xây cái hãng. Bạn phải đi tới Sở Tài Nguyên Môi Trường nộp đơn chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Số tiền đó cộng với bôi trơn đút lót thì gần bằng giá bán thị trường rồi. Thế thì bạn phải bán đi 50 m2 còn lại. Nghĩa là cái thuế này làm mọi thứ liên quan tới đất đai mắc gấp đôi. Một trong những thứ khùng điên nhất.

5 — Đi nộp giấy tờ phải đi công chứng rồi phải có con tem xác nhận. Đã vậy còn phải xin xỏ mấy bé mấy *** ** làm hành chính nữa chứ.

6 — Đi “xin” việc ở cơ quan nhà nước, công ty quốc doanh và một số công ty tư nhân phải nộp “sơ yếu lý lịch”. Sơ yếu lý lịch yêu cầu bạn phải ghi rõ về gia đình và bản thân: Trước và sau 1975 đã và đang làm gì. Tui và gia đình tui làm gì trước sau 1975 thì liên quan gì tới năng lực yêu cầu của công việc?

7 — Đi làm từ thiện phải (nộp đơn) “xin phép” Ủy Ban Nhân Dân và Mặt Trận Giải Phóng địa phương. Trời ơi, đã đi từ thiện, là bỏ tiền túi mình ra cho người khác, đã vậy còn phải đi xin giấy phép là sao? Độc Lập Tự Do Hành Phúc đâu rồi?

8 — Tham gia các giải thể thao ở tỉnh (và vài thành phố) phải có hộ khẩu và sổ tạm trú ở đó. Thể thao Thái Lan đang phát triển với quy mô chinh phục Châu Á. Trong khi đó ở Việt Nam các nhà làm thể thao hỏi: “Hộ khẩu con đâu?” Thấy có ngu không?

9 — Đi du lịch hoặc ở khách sạn nhà nghỉ phải đưa hộ chiếu hoặc Chứng Minh Thư cho tiếp tân. Ở xứ khác tui chỉ trình cái thẻ Master hoặc Visa. Nếu đưa hộ chiếu thì họ photocopy xong rồi đưa lại chứ không giữ. Tui chưa biết cái xứ nào làm vậy, trừ Việt Nam.

10 — Trước giải, buổi, hội hay chương trình gì cũng phải giới thiệu danh sách mấy quan có mặt. Đã vậy danh nghĩa dài dòng lê thê. Có cần phải đọc tên từng người một, chờ từng người một đứng dậy ngồi xuống không. Tui thật sự không hiểu cái logic. Tui chưa bao giờ thấy một giải hay trận thể thao nào ở nước ngoài làm vậy.

11 — Các trung tâm thể thao trưng khẩu hiệu “rèn luyện thể thao theo giương Bác H vĩ đại”. Sao xứ Mỹ không trưng khẩu hiệu “tập luyện theo gương George Washington vĩ đại”? Bác H hồi đó có tập thể thao mà sao tui không biết ta. Chuột cơ tay đô nữa, giờ tui mới biết. Phải ráng tập để nói theo gương Bác H Vĩ Đại mới được.

12 — Tất cả các giấy tờ hành chính pháp lý phải có dòng chữ này ở trên “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam – Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc”. Giấy xin phép nghỉ học cũng vậy, giấy báo cáo cũng vậy luôn. Xứ khác có vậy không ta?

13 — Đi toilet ở Bến Xe (Miền Đông, Miền Tây, tỉnh, thành phố) mỗi lần phải trả 2,000 VND. Không chỉ riêng ở bến xe mà đa số các toilet công cộng đều vậy. Có chỗ còn treo bảng một giá rồi tính tiền một giá khác. Đến lúc cần giải quyết nhu cầu thì bực bội hết sức. Mà nếu toilet nó sạch thì tôi không nói, đằng này mỗi lần nghĩ tới là tôi dị ứng.

14 — Toilet công cộng thường không có giấy vệ sinh. Vậy người ta dùng gì để chùi *** ta?

15 — Làm xong cái hội thảo hay chương trình gì lớn chút cũng phải nói: “Cảm ơn các lãnh đạo đã tạo điều kiện.” Mặc dù mấy người đó không tham gia hoặc không ai biết mặt.

16 — Quân Đội đi làm kinh tế: Viettel, MB Bank, Xăng Dầu Quân Đội, Binh Đoàn 318 Dầu Khí. Tui thật sự không hiểu. Quân đội gì mà làm kinh tế kinh doanh?

17 — Quân Đội tham gia thể thao thành tích chuyên nghiệp. Tui chưa biết quân đội nước nào khác làm vậy.

18 — Cảnh Sát Nhân Dân tham gia thể thao thành tích chuyên nghiệp.

19 — Quân Đội phong hàm sĩ quan cho vận động viên đạt thành tích thể thao. Mặc dù chưa bao giờ qua trường lớp đào tạo sĩ quan, chưa bao giờ có kinh nghiệm cầm lính, chưa bao giờ có kinh nghiệm chiến trường. Hàm sĩ quan vô nghĩa vậy sao? Bạn là cha mẹ thì có cho con mình vô cái quân đội như vậy không? Vận động viên đạt thành tích thể thao thì liên quan gì tới phong hàm sĩ quan quân đội? Tui chưa biết quân đội xứ nào khác làm vậy hết.

20 — Đi xin việc làm vô mấy cơ quan nhà nước hay quốc doanh phải lót tiền, cả trăm triệu hơn chứ không kém. Có xứ nào khác làm vậy không ta?

21 — Đánh thuế kinh doanh trên Facebook. Cái này miễn ý kiến.

22 — Sinh viên học ĐH hay CD cũng phải học 1.5 năm lý thuyết kinh tế triết học Marx – Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh. 1.5 năm của cuộc đời mà sinh viên sẽ không lấy lại được.

23 — ĐCS đã đấu tranh hy sinh cả triệu người dân trong cuộc chiến chống Pháp, Mỹ Ngụy vì lý tưởng của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, nhưng cuối cùng lại dùng chủ nghĩa tư bản và kinh tế thị trường để làm giàu. Vậy cả triệu người Việt đã chết làm gì. Cuộc chiến đó có nghĩa gì?

24 — CSGT phạt tiền vì chạy xe không chính chủ. Giờ một gia đình 5 người chỉ có 2 chiếc xe, giờ mỗi lần xách xe chạy là phải chở người đứng tên phương tiện theo để chứng minh quyền sở hữu?

25 — Giá xe hơi cao gấp 20-30 thu nhập bình quân hàng năm. Một chiếc Camry ở Mỹ có giá $23,000, nhưng ở Việt Nam lại được bán với giá $62,000. Nghĩa là nếu tính luôn tổng thuế phí, giá xe ở Việt Nam cao gấp 3 lần bên Mỹ trong khi thu nhập lại thấp hơn 30 lần.

26 — Xuất bản sách lậu thì chỉ bị phạt hành chính, còn xuất bản sách chính thức có thể bị phạt hình sự. Gì kỳ vậy?

27 — Kinh doanh trên mạng không giấy phép mà kiếm được lời có thể bị khởi tố theo luật hình sự. Vậy bán hàng online cũng có thể bị khởi tố được nữa sao?

28 — Dân “tát” CSGT thì bị phạt 9 tháng tù, CSGT mà đánh dân thì chỉ cần xin lỗi là xong.

29 — Việt Nam có hơn 24,000 tiến sĩ nhưng số lượng bằng sáng chế thì gần như không. À có, mà họ có quốc tịch nước ngoài nên bằng sáng chế thuộc nước ngoài rồi.

30 — Giá nhà trung bình cao gấp 30-40 lần thu nhập hàng năm. Một người Việt Nam trung bình nếu muốn mua nhà bằng thu nhập phải nhịn đói tiết kiệm 30-40 năm. Lạ nhỉ?

31 — Hàng cũ mua từ Ebay hay từ nước ngoài gửi về phải đóng thuế nhập khẩu. Đây là sự thật. Không vấn đề gì cả, bạn chỉ cần trả thuế “cà phê” là xong ngay.

32 — Tiệm bún chửi cháo quát chửi khách như gì mà vẫn đông khách. Cái này chỉ ở Hà Nội thôi. Mà công nhận khó hiểu thật. Ở xứ khác mà chửi khách thì có thu hút họ không ta?

33 — Web phim lậu hoạt động như một công ty chính thức. Điều này đủ hiểu luật bản quyền Việt Nam vô nghĩa đến mức nào rồi.

34 — Xa lộ quốc lộ tầm 30-40km có một trạm thu phí. Campuchia nghèo dã man hơn mà có thấy trạm thu phí nào đâu?

35 — Dân được quyền BÁN ngoại tệ nhưng không được quyền MUA mà không có giấy phép. Vậy là nghĩa gì? Như chỉ được bán cá chứ không được mua cá. Chỉ được bán ra chứ không được mua ra. Vậy là sao? Hiểu chết liền.

36 — Doanh nghiệp tư nhân muốn vay tiền ngân hàng thì phải thế chấp tài sản, còn doanh nghiệp nhà nước thì vay khống.

37 — Bầu cử chưa thực hiện nhưng kết quả lại được biết trước. Sao hay thế nhỉ?

38 — Chỗ nào ghi “cấm đái” hay “cấm đổ rác” thì dân thì càng đái bậy và đổ rác ở đó. Hình như cái này có tác động ngược thì phải.

39 — Thành phố thì khi mưa lại bị ngập……nhưng khi nắng nóng cũng bị ngập luôn. Vậy cái này lỗi do ai?

40 — Và cuối cùng, tuy là một trong những nước nghèo nhất thế giới, nhưng người Việt Nam lại được cho là dân tộc hạnh phúc nhất. Vậy là thế nào?

CÁI TÁT MANG TÊN LỊCH SỬ

 

 

CÁI TÁT MANG TÊN LỊCH SỬ

 

Sự Thật Lề Đường (STLĐ)

Quang Nguyen ·

 

 

Gửi những người Việt vẫn còn đội nón đỏ sau cú từ chối này

Tôi sẽ không vòng vo. Cộng đồng người Việt vừa bị từ chối tham gia lễ diễu hành kỷ niệm 250 năm lập quốc — không một lời giải thích, không một lời xin lỗi, không cả một sự thừa nhận rằng đơn kháng cáo đã được gửi đi. Và trong lúc đó, không ít người trong chính cộng đồng mình vẫn đang đội nón đỏ, vẫn đang chia sẻ hình ông Trump trên Facebook, vẫn đang gọi những người chỉ trích ông là "thân Cộng," "phản quốc," "vô ơn với nước Mỹ."

Tôi muốn hỏi thẳng: vô ơn với ai? Với cái chính quyền vừa đóng sầm cửa lại trước mặt cộng đồng mình à?

Sự thật không cần trang điểm

Liên Hội Người Việt Toàn Quốc Hoa Kỳ đã nộp đơn xin tham gia diễu hành tại Washington D.C. Đơn bị từ chối. Họ kháng cáo lên Ủy Ban America250, lên ban tổ chức, lên các dân biểu. Im lặng. Không một câu trả lời, dù chỉ là một câu từ chối lịch sự.

Trong khi đó, bộ máy America250 — do chính quyền Trump giám sát qua Task Force 250 — không ngừng tự ca ngợi mình là sự kiện "engaging every American," "honoring the contributions of all Americans," "celebrating ALL of us." Khẩu hiệu thì rộng như đại dương. Danh sách thực tế thì hẹp như một cánh cửa khép.

Đây không phải một sự cố hành chính ngẫu nhiên. Đây là một mô hình lặp lại suốt lịch sử nước Mỹ: hứa hẹn sự bao gồm bằng ngôn từ, rồi thực hành sự loại trừ bằng hành động — và im lặng mỗi khi bị chất vấn, vì im lặng không bao giờ phải chịu trách nhiệm.

Việt MAGA ơi, tỉnh dậy đi

Tôi biết nhiều người trong số các anh chị từng là sĩ quan, từng là tù cải tạo, từng vượt biển bằng máu và nước mắt. Tôi tôn trọng điều đó tuyệt đối. Nhưng chính vì các anh chị đã trả giá quá đắt cho hai chữ "tự do" và "công bằng," tôi càng không hiểu nổi tại sao các anh chị lại tiếp tục trao trọn lòng trung thành cho một phong trào chính trị chưa từng, và sẽ không bao giờ, xem cộng đồng mình là một phần thực sự của "nước Mỹ" mà nó đang vẽ ra.

Đừng nhầm lẫn. Phong trào MAGA không được dựng lên để phục vụ người nhập cư — kể cả người nhập cư da vàng đã bỏ phiếu trung thành cho nó suốt ba thập niên. Nó được dựng lên trên một lời hứa rất cụ thể, rất rõ ràng, dành cho một nhóm người rất cụ thể: đưa nước Mỹ "trở lại vĩ đại" theo hình dung của một thời kỳ mà người da trắng nắm toàn quyền văn hóa, kinh tế, chính trị — và những người như chúng ta chỉ là khách trọ được phép ở lại nếu biết im lặng và biết ơn.

Khi các anh chị hô "USA! USA!" trong các cuộc mít tinh, các anh chị có bao giờ tự hỏi: trong hình dung "vĩ đại" đó, có chỗ nào dành riêng cho một gia đình tị nạn nói tiếng Việt ở nhà, ăn nước mắm, thờ ông bà, và có hai lá cờ trong phòng khách? Hay các anh chị chỉ được mời vào bức tranh đó với điều kiện: im lặng về phần Việt Nam, chỉ trưng phần "yêu nước Mỹ kiểu Cộng Hòa" ra ngoài?

Lòng trung thành một chiều không phải là tình yêu

Có một sự thật cay đắng mà tôi xin nói thẳng: tình yêu của cộng đồng Việt MAGA dành cho Trump và phong trào của ông ấy là một tình yêu một chiều. Các anh chị bỏ phiếu cho ông. Các anh chị bảo vệ ông trên mạng xã hội, đôi khi còn quyết liệt hơn cả người Mỹ bản xứ sinh ra ở đây. Các anh chị tin rằng lòng trung thành đó sẽ được đổi lại bằng sự công nhận, bằng một chỗ đứng, bằng một dòng chữ trong sách lịch sử nói rằng "cộng đồng người Việt cũng là một phần của câu chuyện nước Mỹ."

Và đổi lại, các anh chị nhận được gì? Một cánh cửa đóng sầm trước cuộc diễu hành mừng sinh nhật chính cái đất nước mà các anh chị thề trung thành. Không một lời giải thích. Không một lời xin lỗi. Chỉ có sự im lặng lạnh lùng của một bộ máy không thấy cần phải giải trình với những người nó đã dùng xong lá phiếu.

Đây không phải một sự nhầm lẫn của riêng năm 2026. Đây là khuôn mẫu xuyên suốt: người nhập cư da màu, kể cả khi trung thành tuyệt đối với cánh hữu, vẫn luôn bị xem là công cụ chính trị tạm thời — được mang ra trưng bày khi cần chứng minh "chúng tôi không phân biệt chủng tộc," rồi bị gạt sang một bên khi cần phân chia ai mới thực sự thuộc về "nước Mỹ thật."

Đây không phải lỗi của Dân Chủ

Tôi biết phản xạ đầu tiên của nhiều người sẽ là: "Chắc tại phe Dân Chủ phá hoại, sabotage cộng đồng mình." Xin hỏi thẳng: Ủy Ban America250 đang hoạt động dưới sự giám sát của ai? Task Force 250 do ai lập ra, do ai điều hành? Nhà Trắng hiện tại thuộc về đảng nào?

Khi mọi việc suôn sẻ, công lao thuộc về "chính quyền của chúng ta." Khi có chuyện bất công xảy ra ngay dưới sự giám sát của chính chính quyền đó, đột nhiên lỗi lại thuộc về phe đối lập đang không nắm quyền lực gì trong vụ này. Đó không phải là tư duy chính trị. Đó là tư duy của một tín đồ không muốn nhìn thấy thần tượng của mình có lỗi.

Sự thật về vị trí của chúng ta

Tôi xin nói rõ, không màu mè: trong con mắt của những kiến trúc sư thực sự đứng sau chủ nghĩa MAGA — không phải những người Việt trung thành đi theo, mà là tầng lớp hoạch định chính sách, tư tưởng da trắng thượng đẳng đứng phía sau khẩu hiệu "America First" — chúng ta chưa bao giờ là trung tâm của câu chuyện. Chúng ta là số liệu trong báo cáo, là tấm ảnh minh họa cho "sự đa dạng," là khối phiếu bầu hữu ích ở những bang chiến địa như California, Texas, Virginia. Nhưng khi đến lúc viết lại câu chuyện chính thức về 250 năm nước Mỹ — câu chuyện sẽ được dạy trong sách giáo khoa, chiếu trên truyền hình quốc gia, diễu hành qua thủ đô — chúng ta bị gạch tên khỏi danh sách diễn viên.

Đây không phải là một tai nạn của một cá nhân quan liêu nào đó. Đây là biểu hiện cụ thể, có thể kiểm chứng bằng văn bản kháng cáo bị phớt lờ, của một thực tế rộng lớn hơn: chủ nghĩa dân tộc da trắng thượng đẳng, dù được gói trong ngôn ngữ "yêu nước" và "vĩ đại," về bản chất không bao giờ có chỗ thực sự bình đẳng cho người da màu — kể cả những người da màu trung thành nhất với nó.

Câu hỏi cuối cùng, không phải để làm tổn thương mà để đánh thức

Tôi không viết những dòng này để hả hê hay để "dạy đời" ai. Tôi viết vì tôi thương cộng đồng mình — thương những người đã đổ máu, đã vượt biển, đã dạy con cháu yêu một đất nước đôi khi không yêu lại mình bằng một nửa những gì mình đã trao.

Nhưng thương không có nghĩa là im lặng trước sự thật. Và sự thật là: nếu sau cú tát rõ ràng này — một cú tát có tên, có ngày tháng, có văn bản kháng cáo bị phớt lờ làm bằng chứng — mà vẫn có người trong cộng đồng mình tiếp tục đội nón đỏ, tiếp tục biện hộ, tiếp tục đổ lỗi cho "phe kia," thì câu hỏi không còn là "tại sao họ loại trừ mình" nữa. Câu hỏi trở thành: "Tại sao mình vẫn tiếp tục yêu một thứ không bao giờ yêu lại mình?"

Lòng yêu nước thật sự không đòi hỏi sự trung thành mù quáng với bất kỳ đảng phái hay cá nhân nào. Lòng yêu nước thật sự đòi hỏi can đảm để nhìn thẳng vào sự thật, kể cả khi sự thật đó đến từ chính phe mình từng tin tưởng tuyệt đối. Nếu nước Mỹ thực sự vĩ đại, nó phải đủ vĩ đại để có chỗ cho câu chuyện của chúng ta trong ngày sinh nhật 250 năm của chính nó. Nếu nó không tìm được chỗ đó, thì vấn đề không nằm ở chúng ta. Vấn đề nằm ở cái định nghĩa hẹp hòi về "nước Mỹ vĩ đại" mà một số người vẫn đang cúi đầu phục vụ.

— Viết sau khi đọc bản kháng cáo bị phớt lờ

Tháng Sáu, 2026

Thursday, April 9, 2026

Kể chuyện ĐỒNG TÂM và cụ Lê Đình Kình

 

- André Menras / Hồ Cương Quyết — published 28/03/2026 23:30, cập nhật lần cuối 02/04/2026 20:27

Nhân dip ra mắt phim Vietnam au coeur

 

 

Kể chuyện ĐỒNG TÂM

và cụ Lê Đình Kình

 

André MENRAS Hồ Cương Quyết

 

LTS – Cuốn phim tài liệu VIETNAM AU COEUR (Việt Nam trong tim tôi)  sẽ ra mắt khán giả Câu lạc bộ YDA
tại rạp Grand Action (5, rue des Ecoles, 75005 Paris) 16g ngày thứ bảy 4.4.2026. Cuốn phim dành một
trường đoạn về cụ Lê Đình Kình và cuộc đấu tranh của làng Đồng Tâm chống lại sự cưỡng đoạt của
chính quyền và tập đoàn Viettel.

 

Các bạn Diễn Đàn hỏi tôi tại sao trong cuốn phim VIETNAM AU CŒUR vừa thực hiện, tôi đã dành cả một trường đoạn về cụ Lê Đình Kình, về thảm kịch làng Đồng Tâm ? Đơn giản, đó là một trải nghiệm cay đắng trong đời tôi với đất nước Việt Nam, và tôi chắc chắn nó sẽ được khắc ghi vào lịch sử Việt Nam như một sự kiện đau buồn, đồng thời cũng là tấm gương kiên định phi thường của người nông dân, qua bao thế kỷ, chưa hề khuất phục trước bạo quyền (bất luận là Việt Nam hay ngoại quốc), bền bỉ giữ gìn đất đai của mình. 

Tôi đã nói và viết về Đồng Tâm, nhưng trong phim này, tôi muốn hình ảnh cho thấy niềm đau, nỗi kinh ngạc và cơn phẫn nộ, vì hình ảnh nói thật và nói mạnh hơn ngôn từ, chữ nghĩa.

Như chính cụ Lê Đình Kình, vài phút trước khi bị thẳng tay bắn chết trên giường, đã nói để trấn an cụ bà : “ Đảng sẽ không làm vậy đâu, có pháp luật chứ…”. Không lạc quan như cụ Kình, nhưng tôi vẫn mong rằng trước sự kháng cự của nhân dân, chính quyền sẽ không phản ứng tàn bạo và kinh khủng đến thế.

Duyên nợ của tôi với làng Đồng Tâm bắt đầu trong một cuộc họp bạn tại căn hộ của nhà văn Phạm Toàn, Hà Nội. Trong bữa ăn, câu chuyện xoáy quanh một trong những tệ nạn quốc gia của Việt Nam : việc trưng dụng, cưỡng đoạt phi pháp đất đai của nông dân, mà thủ phạm là những cán bộ tham nhũng móc nối với bọn đầu cơ. Các bạn đã nêu ra những vụ việc đã và đang xảy ra. Đó là lần đầu tiên tôi nghe nói tới làng Đồng Tâm : nông dân ở đây kiên quyết chống lại tập đoàn Viettel của quân đội và những nhóm lợi ích, họ khởi kiện từ năm 2013, nhưng chính quyền và tòa án cứ mập mờ cù cưa, vụ công an dã chiến tấn công lần đầu hồi tháng tư 2017, đánh đập làm cụ Lê Đình Kình bị thương nặng (cụ trở thành tàn tật) rồi bắt giam cụ, khiến dân làng (nhất là những phụ nữ tay không) đã phản ứng bằng cách « cầm giữ » trong làng 38 cảnh sát dã chiến, bộ đội và nhân viên an ninh. Những lời hứa hão, những cam kết long trọng bị lật ngược, những vu khống của cán bộ cao cấp của chính quyền Hà Nội, cơ quan tư pháp và tướng lĩnh quân đội.

Trong suốt những năm trước đó, tôi đã nghe nói về những vụ lừa đảo quy mô của bộ máy chính quyền, dùng bạo lực cướp đoạt đất đai và nhà cửa của những người dân đàng hoàng (Thủ Thiêm, vườn rau Lộc Hưng, cũng như ở Bình Dương, Dương Nội (gần Hà Nội), hay Tiên Lãng (Hải Phòng). Tôi nghĩ Đồng Tâm ở gần Hà Nội cũng sẽ chỉ là một vụ phản đối tương tự. Khi tôi hỏi các bạn có thể dẫn tôi đi thăm Đồng Tâm hay không, họ không do dự, nhưng đã cảnh giác tôi là sẽ nguy hiểm. Công an đã vây bủa khoanh vùng. Từ khách sạn của tôi ở khu phố cổ Hà Nội, các bạn đã đi xe hơi đến đón tôi. Sau một vòng, tôi chuyển sang ngồi « xe ôm » ra một địa điểm ngoại thành, từ đó lại lên xe hơi, cuối cùng là cưỡi xe máy đến làng Đồng Tâm. Tại đây, khoảng hai chục người đứng đón tôi ở ngoài sân, và trong phòng, khoảng ba mươi người ngồi quây quần chung quanh cụ Lê Đình Kình. Chòm râu bạc như chòm râu Bác Hồ, cụ Kình tươi cười ngồi giữa những người thân. Một bạn nói đôi lời giới thiệu tôi, nhưng xem ra mọi người đã biết và đợi tôi. Suốt hơn một giờ, tôi cố gắng không để sót một hình ảnh, một lời nói nào của cụ, kể lại cuộc đấu tranh. Đầu óc minh mẫn, trí nhớ phi thường, không bỏ sót một tên người, một địa danh, cụ kể lại quá trình sự kiện đã dẫn tới tình trạng bế tắc hiện nay. Cụ nhắc lại chi tiết diễn biến những quyết định pháp lý mâu thuẫn của chính quyền, nói qua về cuộc tấn công đã khiến cụ trở thành tàn tật. Hiển nhiên người đảng viên lão thành ấy được mọi người dân làng quý trọng, cụ đã bảo vệ lập trường của người dân một cách thông tuệ và kiên quyết. Nhưng càng nghe cụ nói, tôi càng thấy lo lắng và linh cảm những hậu quả không hay. Đối với chính quyền cấp cao, sự phản kháng của dân làng Đồng Tâm mang một chiều kích khác với nơi khác. Đây không phải là Lộc Hưng của những người Công giáo di cư mà người ta có thể dễ dàng chụp mũ chống chế độ. Ở Đồng Tâm, đông đảo quần chúng đoàn kết chung quanh một con người được mọi người quý trọng, có tâm có tài, cựu chiến binh, hơn 50 năm tuổi đảng. Họ không phải là một gia đình, hay vài gia đình cấu kết lại. Họ đa số đều là đảng viên, lặp lại những khẩu hiệu của Đảng, những tuyên bố chống tham nhũng của Tổng bí thư Đảng cộng sản, kêu gọi toàn dân đoàn kết chống tham nhũng. Chỉ có một cách duy nhất giải quyết bế tắc là áp dụng luật pháp nghiêm minh của một Nhà nước pháp quyền. Nhưng thứ luật mà chính quyền nêu ra xem ra là luật rừng của tập đoàn Viettel. Tuy nhiên, trong cuộc phỏng vấn ngày 8 tháng 3 năm 2019, cũng như người dân làng, tôi vẫn mong rằng khả năng xấu nhất, bạo lực cực điểm; không thể xảy ra. Và khi chụp ảnh kỷ niệm, tôi bắt tay bái biệt cụ Kình, tôi tâm niệm sẽ được gặp lại cụ.

Nhưng rất nhanh chóng, chính quyền đã đánh tan giấc mơ về một giải pháp khôn ngoan, hòa bình. Họ đã gửi ngay cho tôi một thông điệp khiến tôi càng thêm lo lắng. Khi tôi ra sân bay Nội Bài để rời Hà Nội, tôi được gọi tên qua loa « đến kiểm tra hành lý ». Người kiểm tra là ba cán bộ công an, một nữ hai nam. Hành lý là chuyến đi thăm Đồng Tâm của tôi. Họ rất lễ độ, thậm chí hơi lúng túng, gọi tôi bằng « bác », và tói gặp tôi theo chỉ thị của cấp trên. Người phụ nữ trẻ tuổi điều khiển cuộc nói chuyện nói chị ta biết là tôi đã quay phim cuộc phỏng vấn cụ Kình. Cũng thừa nhận là năm 2017 đã xảy ra vụ công an bạo hành dân làng, song « bạo hành là do cả hai bên ». Tôi nói tôi rất phẫn nộ trước việc Đảng bạo hành một đảng viên cộng sản lão thành chỉ vì ông cụ bảo vệ ruộng đất của mình và của dân làng. Tôi nói đến Nhà nước pháp quyền. Tôi yêu cầu ghi âm những lời phản đối của tôi và chuyển tới cấp trên thì họ từ chối. Tôi nói nếu quả như chị nói « bạo hành là do cả hai bên » thì cho tôi gặp một công an bị nông dân bạo hành, tôi sẽ phỏng vấn và cho vào phim. Người nữ công an nhận lời, nhưng sau đó yêu cầu của tôi không được thực hiện. Kết thúc cuộc đối thoại, một trong hai người nam chưa nói gì,  đã chuyển cho tôi « thông điệp » sau đây, xưng hô vẫn là bác cháu lễ phép : « Bác cũng hiểu là nếu bác làm gì có hại tới uy tín của Đảng, bác sẽ phải chịu trách nhiệm về mọi hậu quả ». Lúc đó tôi mới hiểu rằng những lo lắng của tôi là có cơ sở.

Linh cảm như vậy nên một ngày sau khi về tới Paris, 8 tháng một 2020, tôi đã gửi một lá thư viết tay cho đại sứ Nguyễn Thiệp ở Paris. Sau đây là một trích đoạn : « …Không đi sâu vào việc xem xét các quy trình phức tạp và trái ngược nhau, cũng không suy xét giá trị các tuyên bố của những lãnh đạo và cán bộ thành phố, tôi chỉ xin nhấn mạnh về sự khẩn thiết phải đi tới một giải pháp công bằng, không bạo động, cho cuộc xung đột mang tính bùng nổ này. Làm sao tránh được đổ máu, một nguy cơ xem ra gần kề. Tháng ba năm ngoái, tôi đã gặp nhân dân Đồng Tâm, chăm chú nghe quan điểm những người lao động và tìm hiểu tình hình thực địa. Đó là những người dân hiền hòa, lương thiện, yêu đất nước như yêu chính mình. Tôi hiểu họ quyết tâm tự  bảo vệ. … Tôi ủng hộ nhân dân Đồng Tâm… ».

Tôi không hề nhận được hồi âm. Sáng hôm sau, là cuộc tấn công tàn sát. Thật kinh hoàng. Trên màn hình của đài VTV1, là những cuộc thẩm vấn, những lời thú tội cưỡng ép, khuôn mặt sưng vù của hai người con trai cụ Kình, Lê Đình Công, Lê Đình Chức và người con gái nuôi Bùi Thị Nối. Tên tôi, Hồ Cương Quyết được công khai khẳng định là đồng lõa và tôi nhận được những lời đe dọa qua mạng. Sau đó tôi đã theo dõi phiên tòa được dàn dựng với 19 người bị bắt, các luật sư bị côn đồ của công an sách nhiễu trên đường đi tới tòa án. Cuỗi cùng là bản án : tử hình cho hai người con trai, chung thân cho người cháu nội. Tru di tam tộc, theo đúng truyền thống phong kiến ở Trung Quốc và Việt Nam.

Những tuyên bố dối trá và mâu thuẫn của những tướng lĩnh, các cuộc điều tra độc lập bị nghiêm cấm, những đám tang bị công an kềm kẹp. Tôi còn theo dõi việc bắt bớ những người đi tìm sự thực và phát biểu, như nữ ký giả Phạm Đoan Trang và bản « báo cáo Đồng Tâm », bị kết án 9 năm tù giam, những người lên tiếng đoàn kết như gia đình bà Cấn Thị Thêu và hai con trai Phương và Tư, cả ba đều bị án nặng. Tất nhiên, người ta cấm đoán mọi cố gắng chi viện bà quả phụ và thân nhân mất hết các nguồn thu nhập : chị Nguyễn Thúy Hạnh kêu gọi quyên góp, gửi khoảng 20 000 đô la vào tài khoản Vietcombank. Đảng ra lệnh chặn tài khoản với lý do « tài trợ khủng bố », đến hôm nay, tài khoản này vẫn bị phong tỏa. Bà Hạnh bị sách nhiễu liên tục trước khi bị bắt giam và kết án ba năm tù (phần lớn thời gian này ở bệnh viện tâm thần). Tôi có thể liệt kê nhiều trường hợp khác, cho thấy giới lãnh đạo Đảng, công an và quân đội đã chuẩn bị kỹ càng một cuộc hành quân chống lại cả một làng xã hòa bình nhưng cứng đầu (đưa ra nào lựu đạn, dao kéo, nông cụ, thùng xăng như chiến lợi phẩm để báo chí nhà nước rêu rao là bằng chứng của những hành động khủng bố). Không những thế, có lẽ họ cũng dự kiến cuộc tấn công sẽ gây ra phản ứng phẫn nộ của dư luận và sáng kiến hỗ trợ gia đình nạn nhân, nên họ đã chuẩn bị bắt giam những nhà hoạt động dân chủ mà họ đã theo dõi từ trước.

Nhìn lại, có thể nói lá thư tôi gửi đại sứ Nguyễn Thiệp quả là ngây thơ, vì bản thân ông đại sứ cũng không thể làm được gì : mọi việc đã được cấp trên của ông quyết định rồi. Cho nên, mỗi lần câu chuyện Đồng Tâm được gợi ra, tôi lại nhớ tới cái nhìn tin cậy của Lê Đình Kình khi cụ gọi tôi bằng hai tiếng « đồng chí ». Tôi còn cảm thấy bàn tay mảnh khảnh của cụ nắm chặt tay tôi lúc chia tay, tôi tự trách mình bất lực, đã không gây được tiếng vang đủ để ngăn chặn sự việc. Tôi nghĩ tới lá   cờ giải phóng mà tôi đã giương cao, nghĩ tới vết nhơ mới xảy ra này. Tôi cảm thấy bị phản bội, thóa mạ, hổ thẹn. Chính vì vậy mà mỗi lần ra bắc, tôi đặt hoa trước mộ cụ Kình, vào làng thăm cụ bà, nói đôi lời an ủi. Đó cũng là lý do tại sao bà có mặt trong cuốn phim, nói lên nỗi đau, kể lại sự thực về cái đêm hôm ấy tại ngôi nhà còn mang nhiều chứng tích. Bà có quyền nói, bà phải nói : đêm hôm ấy công an đã bịt chặt miệng bà trong lúc họ giết chồng bà, cướp đi con cháu bà.

André Menras / Hồ Cương Quyết

Thursday, April 2, 2026

Nhà thơ Hữu Loan khóc giữa Sài Gòn

 

Sang Nguyễnbá ·

Follow

March 29 at 7:16 AM ·

Nhà thơ Hữu Loan khóc giữa Sài Gòn

* * *

Lời giới thiệu của NNC:

Nói đến Nguyễn Hữu Loan, tức nhà thơ Hữu Loan, người ta liên tưởng đến bài thơ “Màu tím hoa sim” được ông sáng tác vào năm 1949 tại Thanh Hoá với lời đề tặng “Khóc vợ Lê Đỗ Thị Ninh”. Bà là con gái cụ Lê Đỗ Kỳ, cùng công tác tại Uỷ ban tỉnh Thanh Hoá sau Cách mạng tháng Tám với Hữu Loan.

Cụ Lê Đỗ Kỳ có người con trai cả là Lê Đỗ Khôi, hy sinh tại Điện Biên Phủ 5 tiếng đồng hồ trước khi quân ta cắm cờ trên sở chỉ huy của Pháp. Tiếp đó là Lê Đỗ Nguyên, tức Trung tướng Hồng Cư. Em ông Cư là Lê Đỗ An, tức Nguyễn Tiên Phong, sau là Bí thư Trung ương Đoàn TNCS HCM. Em ông Nguyên là Đại tá Lê Đỗ Thái. Hai ông Hồng Cư và Lê Đỗ Thái hiện sống ở Hà Nội và đều lấy con gái GS. Đặng Thai Mai.

Bài thơ phổ biến tại Miền Nam không những qua sách báo, mà còn được phổ nhạc, hát rộng rãi trên đài phát thanh, các buổi trình diễn văn nghệ trên sân khấu, nhất là vào những năm thập niên 60 của thế kỷ 20. Bài thơ đả được các nhạc sĩ Dzũng Chinh, Phạm Duy, Anh Bằng, Duy Khánh, Nguyễn Đặng Mừng, Thu Hồ, Hồng Vân... phổ nhạc.

Bản “Màu tím hoa sim” thời ấy ngắn hơn bản tác giả công bố sau này. Bản cũ chấm hết ở mấy câu: “Tôi hát trong màu hoa. Áo anh sứt chỉ đường tà. Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu” chứ không có thêm “Tôi ví vọng về đâu. Tôi với vọng về đâu. Áo anh nát chỉ dù lâu...” ở cuối bài như sau này:

“Khóc vợ Lê Đỗ Thị Ninh”

Nàng có ba người anh đi bộ đội

Những em nàng

Có em chưa biết nói

Khi tóc nàng xanh xanh

Tôi người Vệ quốc quân

xa gia đình

Yêu nàng như tình yêu em gái

Ngày hợp hôn

nàng không đòi may áo mới

Tôi mặc đồ quân nhân

đôi giày đinh

bết bùn đất hành quân

Nàng cười xinh xinh

bên anh chồng độc đáo

Tôi ở đơn vị về

Cưới nhau xong là đi

Từ chiến khu xa

Nhớ về ái ngại

Lấy chồng thời chiến binh

Mấy người đi trở lại

Nhỡ khi mình không về

thì thương

người vợ chờ

bé bỏng chiều quê...

Nhưng không chết

người trai khói lửa

Mà chết

người gái nhỏ hậu phương

Tôi về

không gặp nàng

Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối

Chiếc bình hoa ngày cưới

thành bình hương

tàn lạnh vây quanh

Tóc nàng xanh xanh

ngắn chưa đầy búi

Em ơi giây phút cuối

không được nghe nhau nói

không được trông nhau một lần

Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím

áo nàng màu tím hoa sim

Ngày xưa

một mình đèn khuya

bóng nhỏ

Nàng vá cho chồng tấm áo

ngày xưa...

Một chiều rừng mưa

Ba người anh trên chiến trường Đông Bắc

Được tin em gái mất

trước tin em lấy chồng

Gió sớm thu về rờn rợn nước sông

Đứa em nhỏ lớn lên

Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị

Khi gió sớm thu về

cỏ vàng chân mộ chí

Chiều hành quân

Qua những đồi hoa sim

Những đồi hoa sim

những đồi hoa sim dài trong chiều không hết

Màu tím hoa sim

tím chiều hoang biền biệt

Có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa

Áo anh sứt chỉ đường tà

Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu

Ai hỏi vô tình hay ác ý với nhau

Chiều hoang tím có chiều hoang biết

Chiều hoang tím tím thêm màu da diết

Nhìn áo rách vai

Tôi hát trong màu hoa

Áo anh sứt chỉ đường tà

Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu...

Màu tím hoa sim, tím tình trang lệ rớm

Tím tình ơi lệ ứa

Ráng vàng ma và sừng rúc điệu quân hành

Vang vọng chập chờn theo bóng những binh đoàn

Biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím

Tôi ví vọng về đâu

Tôi với vọng về đâu

Áo anh nát chỉ dù lâu...

* * *

Bài viết của Cung Tích Biền:

Thật hạnh ngộ khi chúng tôi được gặp nhà thơ Hữu Loan, tác giả bài thơ Màu Tím Hoa Sim, cùng một số vị trong vụ án Nhân văn – Giai phẩm, những năm từ 1957 về sau, trên đất Bắc.

Sau tháng Tư 1975, trước khi nhà thơ Hữu Loan có dịp vào Nam, đã có một số thân hữu từ miền Nam ra Bắc thăm ông. Khó có thể mô tả cảnh nghèo khó của gia đình ông thuở ấy, lại khó hình dung ra cái tình cảnh cô đơn của một Hữu Loan bị chính quyền cô lập trong bao nhiêu năm.

Ông vào thăm Sàigòn khá muộn màng, có thể do điều kiện kinh tế quá khó khăn. Anh em chúng tôi có dàn xếp một ngày để tiếp ông. Cà phê sáng, dùng cơm trưa, buổi chiều đưa ông đi dạo chơi đó đây. Thuở ấy chỉ toàn xe đạp, sang trọng tí chút là xe gắn máy. Ông rất hồi hộp khi ngồi yên sau xe gắn máy. Ông luôn bảo “Đèo nhau xe đạp, chậm rãi, thì bình an hơn”.

Quán cà phê vườn khá rộng. Khi anh Duy đưa Hữu Loan tới, quanh bàn chúng tôi đã có Tô Kiều Ngân, Bùi Giáng, mấy anh em văn nghệ, có cả một lúc có hai cô, Huyền Tr. và Thúy V. một cô là ca sĩ, cô kia đang là diễn ngâm thơ cho đài phát thanh, trong các chương trình thi ca.

Hữu Loan, thoạt nhìn như một pho tượng, sạm một màu đất nung. Khuôn mặt chữ điền, tóc dài, trán rộng, sống mũi thẳng, cao. Tôi nghiêng người chào ông. Ông nở nụ cười. Một nụ cười cẩn thận, nói rằng thân thiện là chưa đúng. Một cái bắt tay của giao tế, dè chừng. Sống ở miền Nam, sau cơn dâu bể, nay gặp anh trở về, gặp chị ngoài kia vô, chào một nhà văn xứ Bắc vừa chạm mặt, tôi nhận ra tất cả họ đều có một hành xử khá giống nhau.

Bây giờ ông đang trước mặt. Với ly cà phê đen, bữa nay tôi có cái để mà Nhớ Lại, có cái để được Ngắm Nhìn. Hữu Loan, Ông từ đâu tới!

Trò chuyện với Hữu Loan, mến ông là một người khá hiểu biết về văn chương, học thuật. Dễ là chốn tri âm, tương phùng. Có thể do ông là người có học hành tử tế, trưởng thành vào thời kỳ nước nhà còn lưu giữ những nền móng đạo lý, những thứ vốn văn hóa quý hiếm của giống nòi.

Một ngày gặp gỡ. Bữa trưa uống một trận bia. Chiều đưa ông thăm chơi đó đây. Buổi tối ghé một quán vườn, rất đông anh em. Sáng hôm sau ông ghé tôi. Chúng tôi cùng uống cà phê, ăn sáng. Nhà tôi ngay đường Nguyễn Huệ nên nhà hàng Givral cũng gần. Vào quán, ông đầy vẻ ngỡ ngàng. Xem thực đơn, ông nói, “Tôi không biết gọi gì, anh gọi dùm”.

Tôi gọi cho ông ly cà phê sữa, bánh mì vuông, một đĩa thịt nguội, patê, xúc xích. Lúc này chúng tôi cũng đang túng thiếu, nhưng tiếp ông, tôi phải “bề thế” tí chút. Chẳng lẽ mấy mươi năm ông nhai củ mì ngoài Bắc, giờ này tôi mời ông mấy củ khoai lang trộn bo bo!

Tôi nhường ông ngồi ghế bên trong, nhìn ra đường, quang cảnh góc đại lộ Lê Lợi và Tự Do. “Sàigòn nó to rộng thế đấy”. Bên kia là Continental khách sạn thuộc loại cổ nhất Sàigòn, nhà Hát Tây [tòa nhà Hạ nghị viện thời Cộng Hòa], khách sạn Caravelle. Ông mãi nhìn cảnh đẹp bên ngoài, lại nhìn đĩa thịt nguội. Chừng không muốn ăn. Tôi giục ông ăn chút gì kẻo đói bụng.

Ông nói: “Anh cho tôi nhìn một hồi đã. Bao nhiêu năm tôi mới thấy cái món lạ lùng này”. Ông ăn một cách khó khăn. Chừng từ lâu không quen với dao nĩa. Tôi bèn gọi một đĩa tương tự, rồi bốc mà ăn, ý hô hào ông cùng bốc mà ăn.

Nhìn ông, tôi lại nhớ nước mắt của ông buổi sáng hôm qua. Lúc trò chuyện, tôi nói nhỏ với Thúy V. “Em nên ngâm bài Màu Tím Hoa Sim của chính Hữu Loan để tặng ông”.

Trong quán có cây đàn ghi-ta. Vũ D. đệm đàn. Tô Kiều Ngân rút cây sáo trúc “nhà nghề”, dìu giọng người ngâm thơ. Giọng Thúy V. mượt mà, khá trữ tình. Nghe ngâm thơ của mình, từ mấy mươi năm bị chế độ cấm phổ biến trên đất Bắc, Hữu Loan ngậm ngùi. Bất ngờ ông bật tiếng khóc.

Khuôn mặt như một phiến đá chỗ lòng suối cạn. Khó lòng thấm nước. Nhưng những hạt trong vắt cứ trôi xuống má. Ông có vẻ sờ soạng. Một bàn tay thò vào túi. Không có gì. Hai bàn tay thô tháp chỉ run run, ông kéo cái chéo áo ka-ki màu chàm, vải nhám, chừng cũng bẩn do mặc lâu ngày, đưa lên lau nước mắt…

Nhà thơ Hữu Loan qua đời vào trung tuần tháng 3 năm 2010 tại quê nhà, hưởng thọ 94 tuổi. Phùng Quán ra đi ngày 22 tháng 1 năm 1995. Trần Dần mất ngày 17 tháng 1 năm 1997. Cùng những ngày của mùa xuân. Phan Khôi, Văn Cao, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Nguyễn Hữu Đang…và nhiều nữa… những thành phần trụ cột của Phong trào “Đi Tìm tự do tư tưởng, đòi hỏi nhân quyền”, là đỉnh cao của văn hóa, cội nguồn, nay đã ra người thiên cổ.

Thiên cổ, là Bên Kia của hiện thực bên này ư? Bên kia, ai có nhớ về? Hoài niệm, bảo tôi nghĩ và viết những dòng này.

(Hình ảnh do NNC sưu tầm trên mạng)