Sunday, July 5, 2026

BẢN CHẤT 5 PHÁT SÚNG TẠI BUÔN MA THUỘT

 

 

BẢN CHẤT 5 PHÁT SÚNG TẠI BUÔN MA THUỘT

 

Trần Hạ Vi

 

Bộ NN&PTNT: Trạm BOT hút máu ngành sầu riêng!

5 phát súng nổ giữa trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột tước đi mạng sống của ông Hứa Hồng Hải không đơn thuần là một vụ thanh toán mâu thuẫn cá nhân. Giọt nước tràn ly! Là sự phản kháng nhằm phá vỡ một cái thòng lọng ĐỘC QUYỀN đã siết cổ nhà vườn và thương lái bấy lâu nay.

Câu hỏi mà ai cũng bức xúc lúc này là:

- Tại sao một mình ông Hải lại có quyền lực tối thượng để thao túng, định đoạt số phận cả ngành sầu riêng từ Tây Nguyên xuống tận Miền Tây?

- Những ông lớn nào ở Bộ Nông nghiệp và các ban ngành liên quan đã chống lưng?

"Bạch tuộc 6 vòi" ăn trọn từ gốc đến ngọn

Để dễ hiểu, hãy nhìn vào cái gọi là hệ sinh thái 6 công ty khép kín do một mình ông Hứa Hồng Hải đứng tên và điều hành. Nó được thiết kế tinh vi để người dân không cách nào thoát được:

01. Công ty CP Giám định và Khử trùng Tây Nguyên (Đắk Lắk): Nắm độc quyền đi lấy mẫu, kiểm tra thực địa tại các nhà vườn.

02. Công ty TNHH TM DV ĐT Phát triển Nông nghiệp Hùng Vương (Đắk Lắk): Công ty sân sau đứng ra làm thủ tục logistics và thông quan.

03. Công ty CP Chứng nhận và Giám định MekongCert (Cần Thơ): Phòng thử nghiệm án ngữ ngay cửa ngõ Miền Tây.

04. Công ty CP Chứng nhận và Giám định Miền Đông Việt Nam (Ea Păl, Đắk Lắk): Phòng thử nghiệm kiểm định chất cấm ngay tại rốn sầu riêng Tây Nguyên.

05. Chi nhánh 1 - Công ty CP Chứng nhận và Giám định Miền Đông Việt Nam (Bảo Lộc, Lâm Đồng): Gom luôn cả vùng nông sản Lâm Đồng.

06. Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Trái cây tươi Đức Phát 168 (Ea Kar, Đắk Lắk): Nơi ông Hải ngồi ghế Tổng Giám đốc để trực tiếp đi thu mua, xuất khẩu thương mại.

Thủ đoạn ở đây là gì? Đó là: vừa đá bóng vừa thổi còi! Ông Hải vừa nắm các công ty độc quyền kiểm định chất cấm (như kim loại nặng Cadimi), vừa kiểm soát khâu xét duyệt mã số, lại vừa trực tiếp mở công ty thương mại (Đức Phát 168) để đi thu mua sầu riêng.

Quy trình xét nghiệm 05 mẫu thực tế tại phòng lab chỉ tốn khoảng 1,5 triệu đồng. Nhưng để một container sầu riêng được thông quan, các chủ vựa phải cắn răng nộp cho ông Hải từ 100 đến 130 triệu đồng. Trong đó, 90 triệu được vẽ ra dưới các loại hóa đơn "phí dịch vụ tư vấn" của công ty sân sau, còn 40 triệu là tiền mặt đi ngoài tại các đầu mối để hồ sơ không bị bắt bẻ.

Ai chấp nhận chung chi thì đi nhanh. Ai không chịu quỳ lụy hoặc là đối thủ cạnh tranh của công ty Đức Phát 168, lô hàng trị giá hàng tỷ đồng sẽ lập tức bị dán nhãn "nhiễm chất cấm" hoặc "sai mã vùng", bị giam ở cửa khẩu cho đến khi thối rữa, đẩy thương lái vào cảnh phá sản, nợ nần chồng chất.

Một container sầu riêng xuất khẩu thực chất lãi được bao nhiêu mà phải cõng cục nợ hơn trăm triệu tiền phí bẩn? Giá cạnh tranh từng đồng với nước bạn, nhưng hạ tầng quản lý của chúng ta lại đang tự hại người dân mình.

Thái Lan đi trước, số hóa toàn diện nên có đến 20.000 mã số vùng trồng và hơn 2.000 cơ sở đóng gói được cấp mã thông suốt. Nhờ minh bạch, hàng sầu riêng Thái Lan sang Trung Quốc chỉ bị kiểm tra xác suất 30%.

Tại Việt Nam - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý theo kiểu nhỏ giọt, cả nước chỉ có khoảng 1.396 mã số vùng trồng và 188 mã số cơ sở đóng gói được phê duyệt. Ít mã nên hàng Việt bị Trung Quốc ép kiểm tra 100%, và đẩy các tấm mã này thành hàng hiếm. Chính sự khan hiếm giả tạo này đã đẻ ra thị trường đen. Doanh nghiệp nào không có mã đóng gói, muốn "mua đường" cho một container phải chấp nhận cái giá cắt cổ khoảng 100 triệu đồng (biết giao dịch thì rẻ hơn chút).

Ai chống lưng cho hệ sinh thái của ông Hải che cả bầu trời? - Một mình ông Hứa Hồng Hải, dù có ba đầu sáu tay, cũng không thể tự dựng lên một hệ thống trạm thu phí ngầm liên tỉnh, xuyên quốc gia như vậy nếu không có những chiếc "ô dù" khổng lồ che chở.

Dư luận có quyền đặt câu hỏi về trách nhiệm của:

- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trực tiếp là Thứ trưởng chuyên trách ký duyệt, ban phát các phòng thử nghiệm và phân bổ mã số cơ chế "xin cho".

- Cục Bảo vệ thực vật, hệ thống kiểm dịch động thực vật biên giới và Cơ quan quản lý cửa khẩu: Tại sao lại để một hệ sinh thái tư nhân lạm dụng quyền lực kỹ thuật để chèn ép, giam hàng, ép uổng doanh nghiệp suốt một thời gian dài mà không hề hay biết?

Khi dòng tiền bị đứt gãy, khi nông dân bị chèn ép giá ngay tại vườn và thương lái ôm cục nợ hàng trăm tỷ đồng vì những cái lắc đầu đầy toan tính ở cửa khẩu, họ đã bị dồn vào bước đường cùng. 5 phát súng tại Buôn Ma Thuột chính là sự phản kháng cùng đường khi những uất ức bị nén lại quá lâu, còn những rào cản thủ tục thì cứ vô hồn siết chặt.

Nhưng bạo lực không bao giờ là giải pháp, và tiếng súng không thể giúp nông sản thông quan. Câu hỏi đau đáu lúc này là: Có bao nhiêu gia đình, bao nhiêu vựa sầu riêng phải chịu cảnh tán gia bại sản nữa thì những "vùng tối" hành chính mới được đưa ra ánh sáng? Phải mất thêm bao nhiêu tổn thất nữa, người nông dân và thương lái mới tìm thấy sự công bằng để yên tâm làm ăn?

Cơ quan điều tra cần phải vào cuộc mạnh mẽ, mở rộng vụ án để làm rõ mạng lưới lợi ích nhóm đứng sau. Hãy nhớ rằng, mỗi ngày, mỗi mùa có đến hàng ngàn, hàng vạn container sầu riêng thông quan. Với mức "lót tay" lên đến hàng trăm triệu đồng cho mỗi chuyến hàng, dòng tiền khổng lồ đó ông Hải không thể một mình nuốt trọn. Nó đã chảy về đâu, phân chia cho những ai ở Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Cục Bảo vệ thực vật, hay các ban ngành kiểm dịch, quản lý cửa khẩu liên tỉnh? Những "ô dù" che chở cho cái trạm thu phí ngầm này cần phải được lôi ra ánh sáng.

Đã đến lúc không chỉ riêng ngành sầu riêng, mà toàn bộ cơ chế quản lý nông sản phải thay đổi tư duy. Thay vì giữ cơ chế độc quyền, ban phát giấy phép làm nghẽn dòng chảy kinh tế, nhà nước cần mở cửa, hiện đại hóa và số hóa minh bạch toàn bộ quy trình để người dân tự chủ động. Chỉ khi nào những "trạm thu phí ngầm" được dẹp bỏ, luật chơi trở nên sòng phẳng và thông thoáng, cả ngành nông nghiệp Việt Nam mới thực sự cất cánh để cạnh tranh sòng phẳng trên sân chơi quốc tế.

(Bài của Phuong Ngo, ảnh nạn nhân)

Saturday, July 4, 2026

Mot man dai bip cua Trump

 Mot man dai bip cua Trump


Nguyen Chiến Thắng is with Binh Thanh and 

12 others

.

April 23 at 3:14 PM ·

Trump đã sử dụng uy tín của tổng thống Mỹ áp lực Iran thả 8 nữ tử tù (!?) - một màn đại bịp.

Vào ngày 22/4/2026 trên mạng xã hội X, Trump nhân danh nhà Trắng tuyên bố:

"Tin rất tốt! Tôi vừa được thông báo rằng tám nữ người biểu tình dự kiến ​​bị hành quyết tối nay ở Iran sẽ không bị giết nữa..." - Tổng thống Donald J. Trump

Và nhân danh cá nhân

@realDonaldTrump, tuyên bố:

"Tin rất tốt!

Tôi vừa được thông báo rằng tám nữ người biểu tình dự kiến ​​bị hành quyết tối nay ở Iran sẽ không bị giết nữa. Bốn người sẽ được thả ngay lập tức, và bốn người sẽ bị kết án một tháng tù giam.

Tôi rất trân trọng việc Iran và các nhà lãnh đạo của họ đã tôn trọng yêu cầu của tôi, với tư cách là Tổng thống Hoa Kỳ, và đã hủy bỏ kế hoạch hành quyết. Cảm ơn sự quan tâm của các bạn đến vấn đề này! Tổng thống DONALD J. TRUMP

Đáp lại

Đại sứ quán Iran tại Nam Phi

@IraninSA tuyên bố:

"Hoan hô, Trump đã cứu sống 8 người do AI tạo ra."

Đâu là sự thật?

Theo hãng thông tấn

TRTWORLD, và THE TIME OF ISRAEL...

Hôm thứ Tư, ngành tư pháp Iran đã bác bỏ những phát ngôn của Tổng thống Mỹ Donald Trump rằng Tehran đã đảo ngược quyết định hành quyết tám phụ nữ, cho rằng 8 phụ nữ đó là sản phẩm của AI tạo ra - họ không có thật và chưa bao giờ phải đối mặt với án tử hình, và gọi đó là "tin giả"

Các hãng tin lớn như Reuters và The Verge đã thực hiện kiểm chứng kỹ thuật. Kết quả cho thấy hình ảnh và thông tin về 8 người phụ nữ mà (Trump nói là đã cứu sống) này thực chất là sản phẩm của trí tuệ nhân tạo (AI) không hề có thật được lan truyền bởi các tài khoản mạng xã hội không xác thực.

Đến đây thì câu chuyện đã rõ như ban ngày.

Thứ nhất: 8 người phụ nữ mà Trump nói đã cứu mạng là sản phẩm của AI - họ không hề có thật.

Thứ hai, Trump đã lấy 8 con người không có thật đó để bịa đặt ra một câu chuyện cứu mạng rất ly kỳ để lừa nhân loại.

Điểm đáng sợ nhất không phải là việc Trump bị lừa AI lừa, mà là việc ông ta tự thêu dệt nên một kịch bản phản hồi từ đối phương ly kỳ như thật.

Khi Trump viết trên mạng xã hội: "Tôi trân trọng việc Iran... đã tôn trọng yêu cầu của tôi", ông ta đã tạo ra một thực tại song song. Đây là một dạng thức nguy hiểm của chủ nghĩa dân túy: tạo ra kẻ thù giả, chiến thắng giả, để thu về sự ủng hộ thật của đám "con chiên" Maga cuồng tín .

Việc Iran – một đối thủ đang trong tình trạng chiến tranh – lên tiếng bác bỏ và mỉa mai Tổng thống Mỹ vì "cứu người ảo" là một đòn giáng mạnh vào uy tín ngoại giao của Hoa Kỳ trên trường quốc tế.

Trump là bậc thầy của nói dối:

The Washington post đã thống kê được 30.573 lượt Trump nói dối và gây hiểu lầm trong 4 năm nhiệm kỳ thứ nhất;

theo cơ quan nhân quyền Iran số nạn nhân bị thảm sát trong các cuộc biểu tình khoảng 7 ngàn người , thì Trump thổi lên lúc thì 35 ngàn, lúc thì 40 ngàn lúc thì 42 ngàn theo cảm hứng;

trong lúc UKraina một đất nước đang gồng mình vì chiến tranh , chỉ nhận được hơn 100 tỷ USD viện trợ vũ khí và tài chính từ chính phủ Mỹ (từ tất cả các gói viện trợ chung dành cho cả các đồng minh NATO và tài trợ vào ngành công nghiệp vũ khí tại Mỹ tổng số khoảng 185 tỷ USD), thì Trump thổi lên lúc thì 350 tỷ USD, lúc thì 500 tỷ USD để biến thành nợ để đòi;

Các hành vi xâm hại tình dục, làm giả hồ sơ, trốn thuế của Trump đã bị tòa án phán quyết và Trump đã phải ký quỹ bồi thường danh dự cho nạn nhân tới 88 triệu USD... nhưng Trump vẫn chối cứ như không có chuyện đó...

Hôm nay lại thêm chuyện này giữa thanh thiên bạch nhật.

Bất cứ ai có một chút hiểu biết và lòng tự trọng kể cả người dân Mỹ, chắc chắn sẽ phải xấu hổ thay cho một kẻ đang là đương kim tổng thống một cường quốc.

Bài viết liên quan:

Tổng thống Ukraine Zelensky nói thẳng Trump đã không còn vị gì với Ukraine và không ủng hộ cuộc chiến tranh Iran.

https://www.facebook.com/share/p/1CXoGwMLm9/

“VÔ VỌNG VỀ DÂN TỘC VIỆT"

 

 

Đạo diễn Trần Văn Thuỷ: “VÔ VỌNG VỀ DÂN TỘC VIỆT"

 

Khoa Phan

May 14 at 11:15 PM ·

Đạo diễn Trần Văn Thuỷ: “VÔ VỌNG VỀ DÂN TỘC VIỆT"

PV: Anh đi khắp nơi như vậy, chứng kiến cuộc sống của người Đức, Pháp, Bỉ hoặc Anh, Ý…, điều gì làm anh xao động nhất?

TVT: Cái cảm giác đè nặng bên trong tôi là vô vọng về dân tộc Việt. Tôi nói điều này thì cũng không đúng lắm, có thể là thất lễ và mất lòng nhiều người, nhưng nó là sự thật.

Tôi xin nói, thật lòng như thế này: Khi còn ở trong nước, tôi cứ nghĩ các khuyết tật mà xã hội Việt Nam có, thí dụ quan liêu, cửa quyền, bắt người khác giống mình, áp đặt ý kiến, là do cơ chế của một thứ “chủ nghĩa Xã Hội”.

Sau này ra ngoài, đi nhiều, tiếp xúc nhiều, nhất là những báo chí của phe chống cộng đủ thứ, tôi thấy không ít chuyện kinh hoàng. Ai mà không giống mình thì dằn mặt, đòi đánh hoặc bắn.

Thế tôi mới ngỡ rằng cái bệnh hiếp đáp nhau, dẫm đạp lên nhau, bắt người khác phải phục tùng mình, phải chăng là chứng bệnh của dân tộc Việt Nam.

Nếu như đó là bệnh của một chế độ chính trị thì có thể sửa được. Khi nó không còn hiện diện hoặc thay đổi thì những điều xấu ấy mất đi. Nhưng nếu đó là những khuyết tật của dân tộc thì thật là điều đau đớn vô cùng.

Nếu chỉ tính từ thế kỷ XV với sự xuất hiện của nhân vật Nguyễn Trãi, đến nay có thể nói qua gần năm thế kỷ, có nhiều chuyện gần như ta phải làm lại từ đầu.

Đè nặng lên tôi nhất vẫn là cái cảm giác dân tộc mình khó mà khá lên được, khó lòng đuổi kịp các nước, dù là những nước trung bình trên thế giới. Đó là sự thật, ai càng yêu nước càng buồn nhiều.

PV: Chúng ta có thể đi xa hơn một chút được không? Hiện tình là vậy thì lỗi lầm bắt đầu từ đâu?

TVT: Câu hỏi của anh làm tôi nhớ lại một lần đối thoại ngắn ngủi với một nhà báo cộng sản Pháp. Trong một buổi chiêu đãi báo chí tại Hà Nội cuối năm 1987, nhà báo nọ nâng ly chúc mừng hai bộ phim của tôi (“Hà Nội Trong Mắt Ai” và “Chuyện Tử Tế”) được công chiếu.

Rồi ông nhún vai bảo rằng: “Nhưng công bằng mà nói, các ông đổ lỗi cho chính phủ, cho nhà nước của các ông nhiều quá”.

Tôi hỏi: “Ông là người ngoại quốc, có thể ông có cái nhìn tinh tế hơn”?

Ông ta lại nhún vai: “Cũng chẳng có gì đáng gọi là tinh tế cả. Phương ngôn Pháp của chúng tôi có câu: “Nhân dân nào, chính phủ nấy”. Các ông rất xứng đáng với chính phủ của các ông!”

PV: Thế nhưng tại sao anh lại nhắc đến Nguyễn Trường Tộ trong hai tập phim? Anh chờ đợi gì ở hình ảnh đó?

TVT: Như mọi người đều biết, dưới triều Tự Đức, Nguyễn Trường Tộ đã điều trần như thế nào mà cuối cùng cũng bị bỏ qua. Đừng quên rằng lúc ấy sự chênh lệch giữa hai nước Việt Nam và Pháp về nhiều phương diện không lớn như bây giờ.

Khoảng cách giữa văn minh và lạc hậu cũng không quá xa như bây giờ. Lúc ấy chúng ta không bị tụt lùi lại như hiện nay đang đứng hàng cuối cùng trong tính số của Liên Hợp Quốc.

Tôi lấy “sự kiện Nguyễn Trường Tộ” làm mốc thời gian vì tôi muốn so sánh thật sự trình độ của Việt nam, tương quan của Việt Nam với thế giới lúc Nguyễn Trường Tộ làm điều trần với hôm nay, nếu quan niệm rằng một công trình khoa học, một bài báo, một vở kịch, một cuốn phim,… đều là những bản điều trần kiểu mới. Qua đó mới thấy mình tụt quá xa!

Vừa rồi đi dạo ngang qua nhà thờ chính ở Frankfurt này, nghe nói nó đã được xây từ 500 năm rồi. Ở xứ mình chẳng có gì anh ạ. Cứ triều đại này lên thì đạp nát hết cái cũ, cuối cùng đất nước bị tàn phá tan tành hết, không còn gì.

PV: Lúc thực hiện phim, anh đã gặp bao nhân tài Việt Nam. Giả sử nhân tài Việt Nam được trọng dụng, đất nước sẽ khá lên chứ?

TVT: Tất nhiên là khá chứ! Tuy nhiên từng người Việt Nam một thì rất khá không kém ai, nhưng nếu người Việt gộp lại thì có khi chẳng làm được gì cả.

Còn làm sao để đất nước khá lên, phải có một thể chế xã hội, kinh tế, chính trị hỗ trợ cho việc phát huy tài trí.

Nếu bây giờ chúng ta có một chính phủ tiến bộ thật sự, tôi nghĩ rằng điều đầu tiên cần làm ngay là phải gấp rút xây dựng một bộ luật, đưa vào luật của những nước tiến bộ, dựa trên nghiên cứu truyền thống, phong tục đạo đức của dân tộc.

Tập trung mọi sức lực làm chuyện đó xong rồi tập trung ngay vào việc giáo dục luật pháp cho dân chúng, từ già đến trẻ nhỏ. Làm cật lực trong 5 năm, y như việc xóa nạn mù chữ trong thời kháng chiến chống Pháp.

Tôi nghĩ đó là còn đường ngắn nhất để xã hội Việt Nam trở thành một xã hội tiến bộ, tích cực, phát huy được mọi tài năng.

Nếu làm được điều ấy thì hóa chăng sau này không còn phe phái nào, lực lượng nào có thể dắt mũi dân tộc này đi vào con đường sai lầm.

Nhưng tôi nghĩ đó chỉ là ảo tưởng, một điều ước xa vời. Những người có quyền, chuyện đầu tiên họ nghĩ là củng cố quyền lực của họ, quy luật của trò chơi mà anh.

Nếu một bộ máy nhà nước chỉ nghĩ đến mục đích duy nhất là làm sao cho người dân sống sướng, sống khá lên, con người thương yêu nhau hơn, hiền hòa, hướng (thiện hay thương?) thì chắc tình hình bây giờ đã khác.

Tôi nói điều này với nỗi đau của riêng tôi. Trong những năm chiến tranh 66-67-68, trên đường vào chiến trường miền Nam, đi qua vùng tuyến lửa Vĩnh Linh, tôi thấy sự hy sinh to lớn khủng khiếp của con người.

Anh biết không, ban đêm bất chấp mưa bom, pháo sáng sáng rực, xe bị lầy, dân ở đây đã gỡ cửa nhà, bàn ghế đem ra lót cho xe vượt lầy. Ngồi trên xe mà thấy nhói trong tim.

Lẽ ra sau khi chiến tranh kết thúc, dân vùng này chắc chắn phải được miễn thuế trong nhiều năm hoặc một chính sách đãi ngộ hợp lí nào đó, hay là một sự chia sẽ tối thiểu.

Thế nhưng tôi vô cùng thất vọng khi những năm sau trở lại vùng này, dân ở đây lại sống lầm than hơn xưa và vẫn tiếp tục là nạn nhân của chế độ quan liêu cửa quyền, vẫn nghèo xác xơ.

PV: Trong tất cả những khái niệm, từ ngữ thường được dùng đến bây giờ, như “tự do”, “độc lập”, “hạnh phuc”, “dân chủ”, “tình thương”, “cách mạng”, “vĩ đại”, “vinh quang”, “nỗi đau”, “căm thù”, “hòa giải”, “đoàn kết”…, từ ngữ nào đối với anh có ý nghĩa nhất?

TVT: Tôi có thể nói ngay với anh rằng một cái từ mà chúng ta phải phụng sự – mà đó là một từ cũ rích – từ “con người”.

Chúng ta hãy trở về với những từ thật đơn giản, nguyên thủy hơn, như từ “con người”. Trong muôn loài thì có loài người. Trong rất nhiều loại con thì có “con người”. Trong vũ trụ thì con người chỉ là một thực thể nào đó.

Nếu Lưu Quang Vũ còn sống, chắc anh còn viết được nhiều hơn về những điều này. Từ những tác phẩm cách đây 10-15 năm, Vũ đã từng viết: “Đừng có đánh mất mình tức là đừng có đánh mất con người”.

Nhìn kỹ lại cách mạng của Pháp 1789, đến nay đã 200 năm, lịch sử cũng không làm điều gì khác hơn là vật lộn với con người. Hãy tránh dùng mỹ từ anh ạ.

PV: Thế còn anh nghĩ gì về 'đổi mới'?

TVT: Câu hỏi này làm tôi nhớ lại câu hỏi của nhà báo Úc đã hỏi tôi cách đây hơn 2 năm sau liên hoan phim ở Đã Nẵng.

Anh biết không, lúc đó tôi trả lời là không riêng gì tôi mà phần lớn bạn bè của tôi đều nghĩ rằng: “Đổi mới tức là trở lại một số những cái cũ đã bị vùi dập hoặc bỏ quên”.

Đơn giản thôi, ông thấy cái gì đổi mới tại Việt Nam?

Tư nhân thì được kinh doanh, bác sỹ thì được mở phòng mạch, thầy giáo đôi nơi thì được mở trường tư, in lại sách cũ, trình bày lại một số nhạc phẩm thời xưa, mở rộng một số chính sách về đối ngoại, cho một số được đi du học hoặc du lịch tự túc… thì tôi thưa với ông rằng trước 75 tại miền Nam hay ở Hà Nội trước 54, tất cả những cái đó đều không phải là chuyện gì cả!

Như thế thì rõ ràng, đổi mới là trở lại những cái cũ đã bị bỏ quên chứ còn gì nữa. Nghe xong câu trả lời cà chớn đó của tôi, ông ta mỉm cười.

PV: Tôi nhận thấy trong tất cả những phim của anh mà tôi được xem từ trước đến giờ, anh rất thích dùng một chữ mà bản thân tôi cũng rất thích, đó là chữ “Tâm”. Trong “Hà Nội Trong Mắt Ai”, thì có ngòi bút tả Thiên Thanh, viết lên trời xanh một chữ tâm, trong “Thầy Bói Xem Voi” thì có “nếu tâm còn sáng”… Anh có thể khai triển thêm được không?

TVT: Chuyện này coi vậy mà nó lai rai lắm anh ạ! Sau nhiều năm chiến tranh, xã hội Việt Nam chúng ta có nhiều đổ vỡ về vật chất lẫn tinh thần.

Đổ vỡ vật chất – nói cho cùng – nếu chúng ta có chính sách đúng đắn tận dụng nhân tài, tranh thủ được đầu tư của trong nước lẫn ngoài nước thì cũng có thể dần dần khôi phục được.

Nói đến chữ “Tâm” tức là nói đến đạo đức xã hội, nói đến lòng người. Nhưng sụp đổ tinh thần sau bao năm chiến tranh, sau bao nhiêu sai lầm, tôi e rằng không bao giờ có thể xây dựng lại được.

Đối với người Việt Nam, cái mất mát lớn nhất bây giờ là lòng tin. Giả sử bây giờ nếu có ngoại xâm lần nữa, tôi ngờ ít mấy ai sẵn sàng hy sinh tất cả, sẵn sàng đem hết tất cả những gì mình có ra làm chướng ngại vật chống chiến xa như hồi kháng chiến chống Pháp năm 1946.

Người ta đã qua nhiều lần hy vọng rồi lại thất vọng, nên nếu ngay như bây giờ có một minh quân xuất hiện thì cũng chả có mấy ai tin.

Cái khó nhất hiện nay trong xã hội Việt Nam là làm sao khắc phục được lòng người. Đó là chữ “Tâm”.

PV: Có một ý nữa chung quanh chữ “Tâm”, anh còn nhớ người nhạc sĩ mù trong “Hà Nội Trong Mắt Ai”? Mắt có thể mù nhưng lòng còn trong sạch, tức là tâm còn sáng, thì vẫn còn có thể thấy được những điều mà người khác chưa chắc đã thấy.

TVT: Kỳ rồi, trong một cuộc phỏng vấn ở Anh, người ta đã hỏi tôi “điều gì làm tình hình Việt Nam khó đến như vậy”?!

Vì tôi không phải là người nghiên cứu kinh tế, chính trị, nên tôi chỉ có thể trả lời họ bằng những cảm nhận của một người làm điện ảnh có cơ hội cọ xát với nhiều giới.

Thật ra mình có thể kể cho họ về đủ thứ nguyên nhân – kinh tế, chính trị, lịch sử, dân trị… – nhưng với tôi, nguyên nhân lớn nhất hiện nay làm cho xã hội Việt Nam trì trệ là bệnh “SỢ” vẫn đang bao trùm.

Người ta đánh mất chính mình, người ta sống không thật. Nếu những người lãnh đạo mà có những cố vấn trung thực thì đất nước mới khá lên được.

Anh còn nhớ trong “Hà Nội Trong Mắt Ai”, trong đoạn về Quang Trung, tôi có nói rằng: “Quốc gia chỉ có thể trường tồn và hưng thịnh khi kẻ thường dân dám nói với bề trên điều ngay thẳng và người có quyền uy phải biết nghe kẻ dưới mình điều phải trái.”

Thật ra tôi chưa dám bàn tới chữ “Tâm” vì chữ “Tâm” còn cao hơn thế! Một đạo đức trung bình của xã hội như lòng trung thực mà còn chưa có thì miễn bàn về chữ Tâm”.

Cóp từ FB Tuệ Lãng

BA CUỘC CHIA CẮT- BA CÁCH TRỞ VỀ

 

BA CUỘC CHIA CẮT- BA CÁCH TRỞ VỀ

Kieu thi An Giang

(Thấy gì từ sự thống nhất qua ba quốc gia Đức, Hàn, và Việt Nam)

-

Tôi là người chứng kiến hai cuộc “thống nhất” của hai quốc gia. Một quốc gia tôi được sinh ra. Một quốc gia tôi trưởng thành và cũng là quê hương thứ hai của tôi.

Khi giải phóng miền nam, tôi còn nhỏ, hầu như không có dấu ấn gì đặc biệt. Ngoài việc bà tôi năm nào cũng nuôi một đàn lợn béo như tranh, để “thằng An giải phóng miền Nam về cưới vợ”. Ngày cờ đỏ sao vàng bay trên nóc dinh Độc lập, bà giết hết lợn, khao cả xóm.

Và cậu tôi không về nữa…

Thống nhất nước Đức thì tôi đã đủ nhận thức để hiểu chuyện gì xảy ra. Không phải với tư cách người đương thời, mà là, cái nhìn tỉnh táo của người đi qua hai cuộc chiến của hai quốc gia mà tôi đều yêu thương gọi là Tổ quốc.

Xin có vài nhận định thế này:

I. Khi đất nước bị chia làm hai: nỗi đau không của riêng ai

Trên bản đồ chính trị thế giới hiện đại, hiếm có quốc gia nào trải qua một nỗi đau lịch sử giống nhau đến thế: cùng một dân tộc, một ngôn ngữ, một cội rễ - lại bị chia đôi bởi những đường vĩ tuyến, bức tường bê tông, hay dòng sông lịch sử.

Ba quốc gia: Việt Nam, Đức, và Triều Tiên - là ba minh chứng rõ ràng nhất cho vết cắt chiến tranh để lại.

• Việt Nam: chia cắt từ năm 1954 theo Hiệp định Genève, sau chiến thắng Điện Biên Phủ.

• Đức: chia cắt sau Thế chiến II, thành Đông và Tây Đức - hai nửa đại diện cho hai cực của Chiến tranh Lạnh.

• Triều Tiên: sau năm 1953, Hiệp định đình chiến thiết lập đường ranh giới quân sự giữa Bắc - Nam tại vĩ tuyến 38.

Nhưng điều đặc biệt nằm ở chỗ: trong khi Bắc - Nam Hàn vẫn tiếp tục đối đầu căng thẳng như hai kẻ thù truyền kiếp, thì Đức đã thống nhất trong ôn hòa, còn Việt Nam thì về một mối bằng một cuộc chiến tranh kéo dài suốt hai thập kỷ.

Vì sao lại khác biệt đến thế?

II. Đức và Việt Nam: Hai con đường thống nhất- hai số phận hậu chiến

1. Cách thức thống nhất: Bạo lực hay đối thoại?

Việt Nam (1975)

Việt Nam thống nhất sau một cuộc chiến dài hơn 20 năm. Chiến tranh kết thúc ngày 30/4/1975 bằng chiến thắng quân sự của miền Bắc. Dù được ghi nhận là một chiến thắng “giải phóng dân tộc”, nhưng đây cũng là một thống nhất bằng vũ lực.

Cái giá phải trả là rất lớn: khoảng 3 triệu người Việt Nam thiệt mạng (tính cả quân và dân hai miền), hơn 300.000 liệt sĩ phía Bắc, và hàng trăm ngàn quân nhân miền Nam thiệt mạng hoặc mất tích.

Đức (1990):

Ngược lại, Đức thống nhất mà “không tốn một viên đạn.” Sự kiện Bức tường Berlin sụp đổ vào ngày 9/11/1989 là kết quả của phong trào biểu tình ôn hòa, sự tan rã của Liên Xô, và khát vọng tự do của người dân Đông Đức.

Ngày 3/10/1990, nước Đức thống nhất về mặt pháp lý: Cộng hòa Dân chủ Đức (Đông Đức) chính thức sáp nhập vào Cộng hòa Liên bang Đức (Tây Đức), với mô hình dân chủ và kinh tế thị trường.

2. Thái độ với bên kia sau thống nhất

Việt Nam:

Sau thống nhất, chính quyền mới ở miền Nam được tái cơ cấu toàn diện dưới mô hình XHCN. Hàng trăm ngàn quân nhân, công chức chế độ cũ bị đưa vào trại cải tạo - có người bị giam nhiều năm.

Cải tạo công thương nghiệp tư nhân, cải tạo tư tưởng văn hóa cũng được triển khai.

Một số chính sách được thực hiện với mục đích “xây dựng xã hội mới”, nhưng để lại tổn thương dai dẳng, nhất là ở những người từng sống và phục vụ chế độ Sài Gòn.

Đức:

Dù trên thực tế Tây Đức là bên “thắng cuộc”, nhưng nhà nước Liên bang Đức không tiến hành trả thù.

Chính sách “hòa nhập, không loại trừ” được triển khai:

• Cán bộ, công chức Đông Đức được xem xét tái hòa nhập.

• Chỉ một số ít bị loại trừ do liên quan đến Stasi - cơ quan mật vụ Đông Đức.

• Không có trại cải tạo, không có án tù hàng loạt.

3. Chi phí tái thiết: Ai chịu gánh nặng?

Đức:

Sau thống nhất, Tây Đức chấp nhận gánh toàn bộ chi phí tái thiết Đông Đức- một vùng đất trì trệ, thiếu hạ tầng và tụt hậu kinh tế.

• Chính phủ chi hơn 2.000 tỉ euro trong ba thập kỷ để hiện đại hóa miền Đông.

• Thuế đoàn kết (Solidaritätszuschlag) được áp dụng từ năm 1991- người dân Tây Đức phải đóng thêm 5,5% thuế thu nhập để hỗ trợ miền Đông.

• Các thành phố như Leipzig, Dresden, hay Erfurt dần hồi sinh, nhưng khoảng cách phát triển vẫn chưa xoá hẳn.

Việt Nam:

Sau thống nhất, Việt Nam bước vào giai đoạn bao cấp, bị cấm vận từ phía Mỹ và phương Tây, chiến tranh biên giới với Campuchia (1978) và Trung Quốc (1979) càng làm nền kinh tế kiệt quệ.

• Từ 1975 đến 1985 là giai đoạn cực kỳ khó khăn, lạm phát ba chữ số, thiếu đói diện rộng.

• Phải đến Đổi mới 1986, Việt Nam mới bắt đầu phục hồi kinh tế bằng cách chuyển sang kinh tế thị trường định hướng XHCN.

• Hơn 10 năm sau chiến tranh mới thực sự mở cửa giao thương, và đến năm 1995, quan hệ Việt- Mỹ mới được bình thường hóa.

III. Bắc- Nam Hàn: Một vết rạn chưa lành

So với Đức và Việt Nam, bán đảo Triều Tiên là biểu tượng của sự chia cắt chưa thể hàn gắn. Hai miền vẫn ở trong trạng thái chiến tranh lạnh, dù Hiệp định đình chiến đã ký từ 1953, thậm chí đối đầu, “kẻ thù truyền thống”…

• Không có thống nhất.

• Không có tiến trình hòa giải thực chất.

• Triều Tiên và Hàn Quốc phát triển theo hai hướng hoàn toàn đối lập: một bên độc tài khép kín, một bên dân chủ thịnh vượng.

Thậm chí đến hôm nay, Hàn Quốc và Triều Tiên vẫn không có đại sứ quán tại nhau, đường dây nóng chỉ hoạt động trong thời gian ngắn, và mỗi khi có sự kiện chính trị lớn, căng thẳng quân sự lại gia tăng.

IV. Nhìn lại: Thống nhất không phải là đích đến

Không có con đường thống nhất nào là hoàn hảo.

• Đức mất 30 năm và hàng ngàn tỉ euro để Đông - Tây hòa nhập.

• Việt Nam phải hy sinh rất nhiều, cả về người, về thời gian phát triển, và những vết thương tâm lý chưa lành.

• Triều Tiên - Hàn Quốc thì vẫn đang sống trong nỗi chờ đợi mỏi mòn.

Nhưng điều quan trọng là: thống nhất chỉ là điểm khởi đầu.

Quan trọng hơn là chúng ta đối xử với quá khứ như thế nào.

• Khoan dung không có nghĩa là quên.

• Nhìn thẳng vào lịch sử không có nghĩa là kết tội.

• Một quốc gia trưởng thành là quốc gia biết học từ nỗi đau - để không ai bị bỏ lại phía sau.

V. Và hôm nay, chúng ta viết tiếp trang sử ấy…

Chúng ta đang ngồi đây, viết lại lịch sử bằng trái tim.

Không phải để lên án, càng không phải để phán xét.

Chỉ là để nhắc nhau: nếu đã có một ngày đau thương chia đôi đất nước, thì cũng phải có một ngày đủ bao dung để nối lại nhau bằng tình yêu và sự thật.

Người Việt mình từng là bên thắng - hay bên thua - thì giờ cũng cùng đi chợ, cùng trả tiền điện, cùng đau đáu cho tương lai con cái, cùng chung nhau đại dịch Covid, chung lưng chống lại quả bom thuế quan và giờ đây- chia nhau từng gáo dầu trong cuộc chiến năng lượng mà không ai vô can.

Thống nhất thật sự, không đến từ súng đạn hay hiệp định.

Nó đến từ một cái nắm tay- giữa hai thế hệ, giữa hai ký ức, giữa hai miền đã từng đổ máu vì không thể hiểu nhau.

VI. Điều nước Đức dạy ta không phải là chiến thắng- mà là nghệ thuật chung sống

Nước Đức ngày nay- dù đã thống nhất gần bốn thập kỷ- vẫn còn những khác biệt khó xoá giữa Đông và Tây. Những khoảng cách thu nhập, niềm tin chính trị, và cơ hội phát triển không thể biến mất sau một đêm. Nhưng điều đáng quý là: họ không tìm cách phủ nhận sự khác biệt, mà học cách chung sống với nó.

Chính phủ Đức không cố tô vẽ lịch sử hay dựng lại bức tường vô hình giữa hai miền.

Thay vào đó, họ làm điều giản dị nhưng khó nhất:

• Hàn gắn bằng chính sách, không phải bằng khẩu hiệu.

• Đối thoại bằng công bằng, không phải bằng định kiến.

• Đối xử với quá khứ như một phần để hiểu nhau, chứ không phải để kết tội nhau.

Và trên hết- họ làm điều đó một cách kiên định, như một chủ trương xuyên suốt quốc gia:

“Không có bên thắng- bên thua, chỉ có một nước Đức.”

Đó cũng là điều mà Việt Nam- quê hương của mình- đang cần:

• Một tinh thần nhân văn để chữa lành.

• Một chính sách nhất quán để bao dung.

• Một sự dũng cảm để không khoét sâu vào vết thương thắng- thua, mà học cách nhìn nhau như những người cùng đi qua giông bão.

✅

Thống nhất không khép lại quá khứ- thống nhất mở ra trách nhiệm sống chung với ký ức.

Và chỉ khi nào người Việt thôi hỏi nhau: “Anh là ai trong cuộc chiến?”

Mà bắt đầu hỏi nhau: “Mai này, con cháu mình sẽ sống trong một đất nước thế nào?”

Thì khi ấy, thống nhất mới thật sự bắt đầu.

-

Tháng Tư, 2025- 2026

Kẻ thù cũng là con người

 

Kẻ thù cũng là con người

Tạ Duy Anh

Nếu được, tôi muốn lấy lại cái tên mà Nguyễn Xuân Thọ bỏ đi vào phút chót vì “nhạy cảm” (ông đã nói rõ điều này), để đặt cho tác phẩm mới nhất của ông.

Cuốn sách chia làm sáu chương, mỗi chương là một câu chuyện, chứa theo những thân phận. Mỗi câu chuyện là một phần của quá khứ gắn chặt với hiện tại và sẽ còn chi phối tương lai. Chúng được kể lại trước hết để những gì cất trong kí ức cá nhân không mất hút vào lòng đất, nhờ thế mà có cơ may trở thành kí ức cộng đồng.

Với bất cứ xã hội nào, điều đó cũng rất quan trọng và đáng quý. Nếu không, đã không cần tới những nhà văn.

Thêm một cuốn sách hướng tới sự hòa giải. Hòa giải giữa quá khứ với quá khứ, giữa lịch sử với thực tại, giữa những con người của nhiều thời cuộc, nhiều chiến tuyến khác nhau.

Và hòa giải cho chính những mâu thuẫn của từng con người, trong đó có tác giả, có tôi và bạn.

Những ý nghĩ này cứ bám theo tôi sau khi khép lại cuốn ký sự tư liệu Xuyên qua mọi chiến tuyến (với cái tên ban đầu: Kẻ thù cũng là con người, như đã nói) của Nguyễn Xuân Thọ. Giữa thời tiết nóng nực mang mầu sắc tận thế, thêm vào đó là không khí nồng nặc độc tố của thù hận, của chia rẽ được khơi lại nhân danh đủ thứ vớ vẩn và tăm tối, cuốn sách như một cốc nước mát làm lòng ta dịu đi đôi phần. Rất may là nó dễ đọc, nhiều điều khiến ta tò mò, nhiều thông tin chưa từng được thấy ở bất cứ tư liệu nào, cả chính thống và trôi nổi.

Tác giả, thông qua những câu chuyện được kể lại, cứ dần chạm nhẹ vào nhiều lĩnh vực. Nó gồm lịch sử và văn hóa; nó là thân phận cá nhân và số phận của cộng đồng; nó là chuyện của một gia đình qua nhiều đời chìm nổi, hay cũng chính là hành trình khổ hạnh của hàng triệu người… Và sau những cú chạm ấy, hiện lên một lời cật vấn xoáy vào tâm can từng người: Chúng ta sẽ phải chọn cách nào để sống cùng nhau, với cái gia tài vừa oai hùng, vừa bi thương, vừa đáng hãnh diện vừa đáng sợ, tuy nham nhở nhưng không thể vứt bỏ ấy, do lịch sử để lại? Khó trả lời là điều thấy trước, nhưng nhất định phải trả lời nếu muốn một lần – và mãi mãi bỏ quá khứ lại phía sau.

Nhật kí Đặng Thùy Trâm đã nổi tiếng trên toàn thế giới. Nó gây xúc động cho hàng triệu người về khả năng vượt quá mọi giới hạn chịu đựng của con người trong chiến tranh. Và ta có thể nhắc cả ngàn lần về lòng dũng cảm của tác giả-nhân vật chính, cũng vẫn luôn chưa đủ. Nhưng đọc những gì Nguyễn Xuân Thọ kể, ta bỗng nhận ra chiều kích khác của cuốn nhật kí: Nó không chỉ vật chứng của chiến tranh, mà còn là vật chứng của sự thử thách lương tâm con người, bất kể họ là ai. Câu chuyện giữa hai bà mẹ, của hai đứa con từng chĩa súng vào nhau trên chiến trường qua lời kể của Nguyễn Xuân Thọ, nói với chúng ta về sự vô nghĩa, độc ác của chiến tranh nhiều hơn mọi lời tố cáo. Nó khiến ta khó mà không dừng lại ở từng con chữ.

Trên cái mạch và tâm thế ấy, chuyện kể về những người lính của cả hai bên thời hậu chiến, với chút hài hước nhẹ nhàng, nhưng cứ như cứa vào tâm can người đọc, khiến gây buốt nhói. Và ở cuối của chương sách lấy nhiều nước mắt này, hiện lên chiếc cầu vồng bảy sắc, như chứng thực cơn dập vùi của trời đất, của số phận đang bị chôn vùi. Không còn lý do gì để ai đó đưa bóng tối trùm trở lại.

Ngôi nhà Đức Bảo ở 92 Hàng Bạc kể về cuộc dâu bể của một gia đình, thuộc về những dòng tộc danh giá. Chúng ta chắc chắn đều mong có một gia đình như vậy. Nhưng thời cuộc đã xé nát nó bằng chiếc lưỡi hái mang tên cách mạng. Tuy thế, trải qua biết bao vùi dập, có một thứ vẫn cứ trơ gan cùng tuế nguyệt: Đó là tình người, là lòng yêu thương vô bờ bến, là sự tha thứ. Nó giống như kim cương, bất hoại và phát sáng trong mọi cảnh ngộ. Đây là chương sách dân dã nhất về lời kể. Nhưng, thứ mà nó tạc nên là một tượng đài uy nghi của tình người.

Khác với Phan Thúy Hà và Nguyễn Phan Quế Mai, những tác giả “vô can với quá khứ” nhưng nhiệt huyết theo đuổi cùng chủ đề hàn gắn nỗi đau do chiến tranh gây ra, Nguyễn Xuân Thọ là nhân chứng, là nạn nhân và khó thoát vai trò “đồng phạm” của những bi kịch mà ông nhắc đến, như tất cả những ai sinh cùng thời khốn khổ ấy. Có lẽ vì thế mà ông từ chối thủ pháp gây bí ẩn, bất ngờ. Ông có dụng ý để mỗi câu chuyện thành dòng chảy tự nhiên và chính sự hiện diện của chúng đã là bí ẩn. Ông không hoàn toàn tách ra, lạnh lùng như một người quan sát kiểu Phan Thúy Hà, mà lúc này lúc khác lặn vào nội dung, trở thành nhân vật, nhân chứng, để có cơ hội bật ra những lời tha thiết yêu thương làm dịu nỗi đau của ai đó mà ông thấy liều thuốc chữa đau của mình chưa đủ. Sẽ có người thấy lối viết như vậy có vẻ khá đơn giản, đơn tuyến, ít trau chuốt. Nhưng có những thứ chỉ đáng giá khi không bị tô vẽ. Nhất là khi chúng có mặt trên đời để làm chứng cho thời cuộc.

Và để chúng ta có lúc phải ngừng lại giữa muôn vàn toan tính, cúi đầu ngẫm ngợi, xem mình nên sống tiếp thế nào với một quá khứ như vậy.

Wednesday, July 1, 2026

Hương khói một thời ( NDM )

 

 

Hương khói một thời

 

Nguyễn Đặng Mừng



Nhà chị tôi cách trường Nguyễn Hoàng khoảng 400 m. Hè năm 1970, tôi ra ở nhà chị để thi vào trường NH. Thời đó học trò trường tư chỉ có 5 % được thi tuyển vào lớp 10 trường NH. Nhà chị  tôi có cái giếng  trong, cà xóm đều tới đó gánh nước. Anh chị tôi thường đi vắng. Tôi ra giếng treo võng đọc sách dưới tàng cây ổi. Buổi chiều, có con bé khoảng lớp tôi gánh đôi thùng tới, giọng trong veo, “anh chi đó ơi cho em xin đôi nước”. Tôi cười và nói cô tự nhiên. Tôi lại đọc sách tiếp, giả đò không thèm để ý con gái, nam nhi mà. Cô ấy múc đầy nước, rồi chào anh em về nghe. Chữ “nghe” cao lên, lảnh lót như tiếng chim.  

 

Em quẩy thùng nước đi rồi mới thấy lòng mình chao động theo bước chân trần, chơi vơi nhịp gánh. Hai thùng nước đầy sóng sánh có mấy vệt nước rơi vãi ra ngoài. Thương chi lạ.

 

Đêm lại mơ tưởng, mộng mị lung tung, ba giờ sáng tôi đã thức giấc, nằm lơ mơ nghe từng tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ quả lắc. Con gà gáy tiếng rất khàn. Con gà trống mạ tôi gửi để ăn mừng ngày tôi xong đệ nhất cấp, nó có biết vài ngày nữa chết không, mà gáy tiếng khàn khàn buồn bã thế.

 

Rồi chiều mai cũng tới, nhưng chậm hơn, do lòng mình cứ ngóng trông. Bốn giờ chiều tôi đã tắm rửa, chải tóc, mặc bộ đồ đẹp nhất ra dưới tàng cây ổi “đọc sách”. Hôm đó đọc Gió Đầu Mùa của Thạch Lam…, chẳng có chữ nào vào đầu, chỉ trông chờ em gánh nước. Nước đầy cả giềng, cần chi xin. Nhưng em vẫn lễ phép, “anh chi đó ơi, cho tui xin đôi nước”. Tôi bật dậy khỏi võng chào em lí nhi : “Cô cứ tự nhiên”. Em cười, cái răng khểnh như nở hoa sau làn môi đỏ mọng. “Anh học trường mô”. Tôi ngập ngừng không biết trả lời sao cho thân thiện, bèn nói đại : “Niên khóa tới tôi sẽ học Nguyễn Hoàng”. Nói rồi mới thấy mình dại, mới thi xong chắc chi đã đậu. “Anh học ban chi. Em cũng học lớp 10, ban B”. Lỡ rồi, nói đại luôn, “Tui học ban C”. “Hi hi, Mấy anh ban C là lãng mạn lắm”.  Đứng đối diện thành giếng, em vừa múc nước vừa chuyện trò. Cái áo rộng cổ của em hé một chút bờ ngực mỗi lần em cúi xuống múc nước. Nói thiệt, từ nhỏ tôi chưa bao giờ thấy bờ ngực trần con gái. Hồi đó con gái ăn mặc kín đáo lắm. Tôi trân người, cuốn sách trên tay rơi xuống nước. Tôi xấu hổ sợ em biết ý đồ của tôi. Mà tôi có ý đồ gì đâu, chỉ “chộ” chớ không phải cố nhìn.

 

Ngày sau rồi ngày sau nữa, em vẫn tới gánh nước, nhưng luôn mặc áo sơ mi gài nút tới cổ. Chúng tôi vẫn nói chuyên trên trời dưới đất. Có lần nói chuyện đến 20 phút. Cô em thấy chị lâu về bồng em chạy ra tìm, hỏi “răng lâu rứa, mạ la tề”. Cô chị nói dối, “Đang hỏi anh về… bài thơ…”. Cô em lườm cái bồng em quay đi. Em lại cười, “chào anh em về. Khi mô rảnh qua nhà em chơi, ba mạ em quý bạn bè em lắm”. Trời, sướng muốn xỉu.

 

Những tưởng đời vui lắm. Ai ngờ !

 

Em đi học cùng đường với tôi, mặt có khi như lạ, như quen. Đôi mắt trong veo đen láy khi cười rạng rỡ, khi buồn hiu hắt, xa xôi. Chạm mặt nhau chỉ gật nhẹ đầu. Không ai chào ai, như người lạ. Con gái Quảng Trị “nết na”, oan nghiệt thế, mới đau. Đôi guốc cao gót làm dáng em khoan thai hơn, như rướn người lên trong tà áo dài tha thướt. Sáng nào tôi cũng ra đầu ngõ canh em rồi theo sau, cách khoảng vài chục thước cho an toàn. Thế mà em cũng biết, thỉnh thoảng quay lui, cười nhẹ cái.

 

Cho đến một ngày, em khóc rống lên, ở nhà xác Tiểu khu QT, ba em chết trận. Tôi đứng ngoài hàng rào kẽm gai, thấy em vật vã, em cúi xuống lạy cha, em bật lên hung dữ. Tôi không còn thấy chiếc răng khểnh, không tơ tưởng gì đến cây ổi, và giếng nước ngày thơ. Tôi khóc nức nở vào chiều đông năm ấy, đạp xe theo quan tài đi trong mưa gió, hơn mười cây số về quê em. Tôi lại đạp xe một mình trong mưa gió chạy về cho kịp, thời đó ban đêm không ai dám ra đường.

 

Ôi. Tôi  sẽ đến nhà em như lời hẹn ước, như lời mời hồn nhiên của Em. Phải chi còn Ba, nhỉ.

 

Mấy ngày đi học không có em phía trước, buồn và thương em đứt ruột. Đầu tuần lại thấy em đi học với chiếc khăn tang. Gặp tôi đầu ngõ em chỉ khóc, không nói gì. Vẫn em đi trước, tôi theo sau. Mắt tôi nhòe đi. Bóng áo trắng như dải khăn tang chấp chới phía trước, lao đao lung linh lờ mờ nhang khói. 

 

Chiều về em lại qua gánh nước. Em lặng lẽ múc nước. Nghe rõ tiếng nước lách tách trào ra chảy ngược xuống giếng. Đôi vai em mệt mỏi theo từng tao giây gàu. Chiếc khăn tang trễ xuống trên vầng trán hanh hao. Đôi mắt buồn rượi nhìn tôi không nói gì. Tôi hỏi câu vô duyên : “Bài vở em có theo kịp không”.  Em nói : “Em không thiết học hành gì nữa, chắc em nghỉ học để lo cho các em”.

 

Lần cuối em gặp tôi vào một đêm trăng, em đi gánh nước trễ hơn. Em nói “mai em về quê với Mạ, để hương khói cho Ba, và săn sóc ôông mệ nội, gần tám mươi tuổi rồi. Em phải bỏ học. Nhớ trường nhớ bạn lắm nhưng biết mần răng đặng chừ. Bé Lĩnh (tên đứa em gái) gửi lại cho Dì để tiếp tục đi học. Em còn hai em gái nhỏ, Mạ một mình mần răng lo nỗi. Tội nghiệp ôông mệ, chưa có cháu trai đích tôn. Em về quê, sáng đi học anh có còn nhớ em không. Sáng mô em đi học cũng có ý chờ anh, và biết sau lưng khi mô cũng có anh theo. Em biết anh thương mạ con em. Hôm đang quỳ làm lễ trước quan tài ba, thấy anh cứ lấp ló nhìn em, rồi anh lên lúc mô không hay. Em chạy ra đường anh đã xa rồi. Thấy anh đạp xe chạy trong mưa thương lắm”. Bé Lĩnh chạy qua nói, “ Chị ơi, Mạ nói chị cứ nói chuyện với anh đi, mai nhà mình về làng rồi, để em gánh nước về cho”. Tôi  không nói được câu nào, chỉ cầm tay cùng em khóc miết. Tôi đưa em một đoạn về nhà, em bảo, “mời anh vô nhà đi, đừng sợ, từ ngày Ba mất mạ cứ nhắc anh đó, vô đi”. Tôi theo em vào nhà. Di ảnh của Ba em khói hương nghi ngút. Mạ em đang thắp nhang, quay ra “chào cháu”. Tôi vẫn đứng yên lí nhí “dạ”. Em bảo, “Anh thắp nhang cho Ba đi”, em đưa tôi cây nhang, tôi vái lạy rồi quay ra cùng gia đình ăn chè đậu huyết. Mạ em nhìn tôi sửng sốt, hỏi “Cậu tên gì” “Dạ tên M”. “Năm ni cậu mấy tuổi”. “Dạ mười bảy”. Bà nói : “Con trai tuổi Tỵ là gian nan lắm, bác trai cũng tuổi Tỵ, hơn cậu hai giáp, nhọc nhằn cả đời, cho đến lúc chết tiền lương tháng trong bóp vẫn còn nguyên, chưa tiêu đồng mô hết”. Con Mai tuổi Ngọ, chắc đời con cũng như đời Mạ”. Bà hưng hức khóc. Mai và Lĩnh cũng nhòe nước mắt. Bà chậm rãi “Con Mai và con Lĩnh sinh ở đây, bác trai nói đặt tên Mai Lĩnh để mai lớn khôn biết nhớ núi nhớ sông, “Núi Mai, Sông Lĩnh”, nhớ nguồn cuội của mình là dân Quảng Trị”.

 

Hai tuần vắng em, đêm nào tôi cũng nằm chiêm bao thấy em chít khăn tang khóc vật vã. Có khi thấy em cười như mếu, chiếc răng khểnh như búp hoa nhài chưa nở  mà sao héo buồn thế. 

 

Sáng  chủ nhật hôm đó tôi đạp xe mười câu số về làng em. Tháng hai trời còn mưa bấc. Đằng xa, làng em mù mù lũy tre. Lúa thì con gái gợn sóng run rẩy theo từng luồng gió bấc.

 

Tôi đứng rất lâu trước ngõ, nghe tiếng hò ru em vẵng ra từ mái nhà tôn :

 

Ru em em thét cho muồi
Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu……..
Kim may hò áo đứt rồi
Tiếc công thầy mẹ đứng ngồi…. chọn kim

Ạ ơ ờ….

Mạ bồng con ra ngồi cầu Ái Tử
Vợ trông chồng lên núi vọng phu
Biết răng chừ bóng xế trăng lu
Con ve kêu… rồi… mùa hạ, biết mấy thu….gặp chàng
”.

 

Tiếng hò ru em xóm quê buồn như tiếng khóc. Tôi dắt xe đi vào sân kêu, Mai ơi. Tiếng hò im bặt. Em chạy ra, trân nhìn tôi. Mắt chớp chớp, hai giọt nước mắt lăn chậm trên gò má ửng chút hồng. Em gầy đi quá. Tôi hỏi, “Mạ đi mô’. “Dạ đi chợ”. “Đi chợ Quán chợ Cầu hả…Mai hò hay lắm”. Em thành thật : “Về đây mỗi lần ru em lại nhớ anh. Hồi ở trên tỉnh, em không dám hò vì sợ “quê” với anh”. “Anh cũng quê mà. Mai hò tiếp cho anh nghe đi”. Em ngửng lên, cười nhẹ “Thì anh hò đi, Mai nghe”.  Tôi hò một bài, em cười, bảo “Anh hò hay lắm, nhưng có chỗ sai lời”.  Em lại cầm tao nôi, mái tóc nghiêng xuống trên chiếc nôi tre, con bé đang thiu ngủ giật mình khóc. Em lại dỗ dành, giọng hiền như mẹ, rồi cất giọng, tiếng à ời dài ra, càng về sau càng mềm đi, nhỏ đi như chỉ còn hơi thở.  Ạ ơ hờ….“Em thương anh, hái dâu quên giỏ, bứt cỏ quên liềm / Xuống sông gánh nước, đôộc chìm… gióng trôi.... ”. Em lại khóc nức lên, hai tay úp mặt cúi đầu, tóc rủ xuống rung theo từng nhịp nấc. Tôi để tay lên vai em, an ủi : “Đừng khóc, buồn lắm. Anh có mang về cuốn truyện Kiều tặng em”. Em nói trong tiếng nấc : “ Kiều, Kim Trọng chi nữa anh ơi. Đêm nằm ngủ em cứ mơ đang đi học, lại thấy anh thất thểu theo sau. Bữa nay anh đừng về nữa, không an toàn mô. Thôi, anh lên đi. Có dịp em ghé thăm anh, và bạn bè”.

 

Tôi nắm tay em, bàn tay lạnh run run. Em kéo tay lại, nhắc : “Anh lên liền đi, buổi chiều ở đây thỉnh thoảng hai bên rình bắn nhau đó”. Em tiễn tôi ra cổng, đứng nhìn theo. Tôi đạp xe như điên trong mưa bấc. Ngoái lui thấy bàn tay em vẫy vẫy, rồi hình ảnh em nhèo đi trong mưa, lũy tre đen thẫm lại.

 

Anh rể tôi biết chuyện tôi trốn về thăm em, kêu tôi lại nghiêm mặt bảo; “Cậu dám về làng P à, cậu có biết ở đó nguy hiểm không. Nếu cậu tái phạm thêm lần nữa tôi sẽ mách Ba”. Tôi lý nhí nhận tội và hứa không về quê em nữa.

 

*

 

Một năm, năm rưỡi… Tôi vẫn đi học một mình. Nhìn tà áo nào cũng có hình dáng em. Chiều nào tôi cũng treo võng dưới cây ổi, bên giếng nước đọc sách, nhìn ra cánh đồng hướng nhà em. Tiếng súng, khói bom làm tôi thót tim. Tiếng gàu múc nước ai đó cũng rốn rảng như vũ khí chiến tranh. Cũng có những buổi chiều yên ắng, mây lang thang bay từ đông về tây, trên cao vời, mà gió Lào thì thổi ngược lại. Đọc thơ Hàn Mặc Tử, hơn bao giờ hết tôi thấm đẩm hồn thơ :

Gió theo lối gió, mây đường mây….”

Và ngọn gió nồm mát rượt hiếm hoi, như mang tiếng hò em về, ngọt ngào mà cay đắng :

Kim may hò áo đứt rồi
Tiếc công thầy mẹ đứng ngồi chọn kim…”

*

 

Mùa hè năm 1972, súng đạn mù trời. Bà con Quảng Trị dắt díu nhau chạy loạn, tứ tán người một phương.

 

Vào trại tạm cư Đà Nẵng tôi đi tìm khắp, từ Hòa Khánh về Non Nước, chẳng biết gia đình em ở phương mô. Một hôm đang lang thang trên bãi biển Hòa Long, nghe tiếng gọi, “anh M”. Quay lại  thấy mấy cô nữ sinh Nguyễn Hoàng mặc đồng phục áp dài trắng đang đi dạo trên bờ biển. Một cô la lên : “Anh M phải không, Lĩnh đây nì”. Lĩnh chạy đến trước mặt tôi, cặp vở ôm nghiêng trước ngực, cúi đầu nói lí nhí, “Mạ và chị Mai chết rồi anh nờ. Em ở với dì có xe nhà binh nên đi trước, không chờ Mạ được. Nghe người ta kể, thấy Mạ, Chị Mai và hai em chết ở cầu Dài….”

 

Trời đất như quay vòng, tôi quỵ xuống cát. Lĩnh ngồi xuống bên, gục đầu lên gối. Hai anh em im lặng, tấm tức  khóc. Tháng mười, trời vần vũ cơn giông, sấm chớp và biển động. Ầm ào gió rít. Mưa ập xuống. Chúng tôi vẫn ngồi thế, trong mưa. Những hạt mưa bắn vào da đau rát, nhòe những vệt cát như những loạt đạn bắn xối xả. Rồi từng dòng, từng dòng nhỏ ngoằn ngoèo chảy thành dòng lớn hơn,  từ từ trôi xuống biển.

 

Mưa ngớt, hai anh em ướt sủng đi dọc bờ biển. Mai tôi đi lính rồi, chưa biết bao giờ về lại Quảng Trị. Lĩnh đi bên thỏ thẻ, “anh M này, ra trường nhớ về cùng Lĩnh đi tim xác Mạ, chị Mai và các em nghe anh… Anh nì, đêm nào Lĩnh cũng mơ thấy đi gánh nước cùng chị Mai. Có khi em rình, thấy anh chị cầm tay nhau, về méc Mạ. Mạ nói, kệ tụi hắn, lớn chút nữa con sẽ hiểu. Giờ em hiểu rồi thì không còn chị để xin lỗi. Mai anh đi, Lĩnh không có gì tặng anh làm kỷ niệm, Lĩnh hát nghe”.

 

Sóng ầm ào, mưa lâm thâm, giọng hát trầm, buồn thảm như lời nguyền, một lời hẹn xa vời không định trước : “Ngày mai anh đi, biển nhớ tên anh gọi về….” Và Mai nữa, anh sẽ về tìm Mai Lĩnh, tìm hồn sông núi, quê hương.

 

Nguyễn Đặng Mừng 

“VÔ VỌNG VỀ DÂN TỘC VIỆT"

 

 

Đạo diễn Trần Văn Thuỷ: “VÔ VỌNG VỀ DÂN TỘC VIỆT"

 

Khoa Phan

May 14 at 11:15 PM ·

Đạo diễn Trần Văn Thuỷ: “VÔ VỌNG VỀ DÂN TỘC VIỆT"

PV: Anh đi khắp nơi như vậy, chứng kiến cuộc sống của người Đức, Pháp, Bỉ hoặc Anh, Ý…, điều gì làm anh xao động nhất?

TVT: Cái cảm giác đè nặng bên trong tôi là vô vọng về dân tộc Việt. Tôi nói điều này thì cũng không đúng lắm, có thể là thất lễ và mất lòng nhiều người, nhưng nó là sự thật.

Tôi xin nói, thật lòng như thế này: Khi còn ở trong nước, tôi cứ nghĩ các khuyết tật mà xã hội Việt Nam có, thí dụ quan liêu, cửa quyền, bắt người khác giống mình, áp đặt ý kiến, là do cơ chế của một thứ “chủ nghĩa Xã Hội”.

Sau này ra ngoài, đi nhiều, tiếp xúc nhiều, nhất là những báo chí của phe chống cộng đủ thứ, tôi thấy không ít chuyện kinh hoàng. Ai mà không giống mình thì dằn mặt, đòi đánh hoặc bắn.

Thế tôi mới ngỡ rằng cái bệnh hiếp đáp nhau, dẫm đạp lên nhau, bắt người khác phải phục tùng mình, phải chăng là chứng bệnh của dân tộc Việt Nam.

Nếu như đó là bệnh của một chế độ chính trị thì có thể sửa được. Khi nó không còn hiện diện hoặc thay đổi thì những điều xấu ấy mất đi. Nhưng nếu đó là những khuyết tật của dân tộc thì thật là điều đau đớn vô cùng.

Nếu chỉ tính từ thế kỷ XV với sự xuất hiện của nhân vật Nguyễn Trãi, đến nay có thể nói qua gần năm thế kỷ, có nhiều chuyện gần như ta phải làm lại từ đầu.

Đè nặng lên tôi nhất vẫn là cái cảm giác dân tộc mình khó mà khá lên được, khó lòng đuổi kịp các nước, dù là những nước trung bình trên thế giới. Đó là sự thật, ai càng yêu nước càng buồn nhiều.

PV: Chúng ta có thể đi xa hơn một chút được không? Hiện tình là vậy thì lỗi lầm bắt đầu từ đâu?

TVT: Câu hỏi của anh làm tôi nhớ lại một lần đối thoại ngắn ngủi với một nhà báo cộng sản Pháp. Trong một buổi chiêu đãi báo chí tại Hà Nội cuối năm 1987, nhà báo nọ nâng ly chúc mừng hai bộ phim của tôi (“Hà Nội Trong Mắt Ai” và “Chuyện Tử Tế”) được công chiếu.

Rồi ông nhún vai bảo rằng: “Nhưng công bằng mà nói, các ông đổ lỗi cho chính phủ, cho nhà nước của các ông nhiều quá”.

Tôi hỏi: “Ông là người ngoại quốc, có thể ông có cái nhìn tinh tế hơn”?

Ông ta lại nhún vai: “Cũng chẳng có gì đáng gọi là tinh tế cả. Phương ngôn Pháp của chúng tôi có câu: “Nhân dân nào, chính phủ nấy”. Các ông rất xứng đáng với chính phủ của các ông!”

PV: Thế nhưng tại sao anh lại nhắc đến Nguyễn Trường Tộ trong hai tập phim? Anh chờ đợi gì ở hình ảnh đó?

TVT: Như mọi người đều biết, dưới triều Tự Đức, Nguyễn Trường Tộ đã điều trần như thế nào mà cuối cùng cũng bị bỏ qua. Đừng quên rằng lúc ấy sự chênh lệch giữa hai nước Việt Nam và Pháp về nhiều phương diện không lớn như bây giờ.

Khoảng cách giữa văn minh và lạc hậu cũng không quá xa như bây giờ. Lúc ấy chúng ta không bị tụt lùi lại như hiện nay đang đứng hàng cuối cùng trong tính số của Liên Hợp Quốc.

Tôi lấy “sự kiện Nguyễn Trường Tộ” làm mốc thời gian vì tôi muốn so sánh thật sự trình độ của Việt nam, tương quan của Việt Nam với thế giới lúc Nguyễn Trường Tộ làm điều trần với hôm nay, nếu quan niệm rằng một công trình khoa học, một bài báo, một vở kịch, một cuốn phim,… đều là những bản điều trần kiểu mới. Qua đó mới thấy mình tụt quá xa!

Vừa rồi đi dạo ngang qua nhà thờ chính ở Frankfurt này, nghe nói nó đã được xây từ 500 năm rồi. Ở xứ mình chẳng có gì anh ạ. Cứ triều đại này lên thì đạp nát hết cái cũ, cuối cùng đất nước bị tàn phá tan tành hết, không còn gì.

PV: Lúc thực hiện phim, anh đã gặp bao nhân tài Việt Nam. Giả sử nhân tài Việt Nam được trọng dụng, đất nước sẽ khá lên chứ?

TVT: Tất nhiên là khá chứ! Tuy nhiên từng người Việt Nam một thì rất khá không kém ai, nhưng nếu người Việt gộp lại thì có khi chẳng làm được gì cả.

Còn làm sao để đất nước khá lên, phải có một thể chế xã hội, kinh tế, chính trị hỗ trợ cho việc phát huy tài trí.

Nếu bây giờ chúng ta có một chính phủ tiến bộ thật sự, tôi nghĩ rằng điều đầu tiên cần làm ngay là phải gấp rút xây dựng một bộ luật, đưa vào luật của những nước tiến bộ, dựa trên nghiên cứu truyền thống, phong tục đạo đức của dân tộc.

Tập trung mọi sức lực làm chuyện đó xong rồi tập trung ngay vào việc giáo dục luật pháp cho dân chúng, từ già đến trẻ nhỏ. Làm cật lực trong 5 năm, y như việc xóa nạn mù chữ trong thời kháng chiến chống Pháp.

Tôi nghĩ đó là còn đường ngắn nhất để xã hội Việt Nam trở thành một xã hội tiến bộ, tích cực, phát huy được mọi tài năng.

Nếu làm được điều ấy thì hóa chăng sau này không còn phe phái nào, lực lượng nào có thể dắt mũi dân tộc này đi vào con đường sai lầm.

Nhưng tôi nghĩ đó chỉ là ảo tưởng, một điều ước xa vời. Những người có quyền, chuyện đầu tiên họ nghĩ là củng cố quyền lực của họ, quy luật của trò chơi mà anh.

Nếu một bộ máy nhà nước chỉ nghĩ đến mục đích duy nhất là làm sao cho người dân sống sướng, sống khá lên, con người thương yêu nhau hơn, hiền hòa, hướng (thiện hay thương?) thì chắc tình hình bây giờ đã khác.

Tôi nói điều này với nỗi đau của riêng tôi. Trong những năm chiến tranh 66-67-68, trên đường vào chiến trường miền Nam, đi qua vùng tuyến lửa Vĩnh Linh, tôi thấy sự hy sinh to lớn khủng khiếp của con người.

Anh biết không, ban đêm bất chấp mưa bom, pháo sáng sáng rực, xe bị lầy, dân ở đây đã gỡ cửa nhà, bàn ghế đem ra lót cho xe vượt lầy. Ngồi trên xe mà thấy nhói trong tim.

Lẽ ra sau khi chiến tranh kết thúc, dân vùng này chắc chắn phải được miễn thuế trong nhiều năm hoặc một chính sách đãi ngộ hợp lí nào đó, hay là một sự chia sẽ tối thiểu.

Thế nhưng tôi vô cùng thất vọng khi những năm sau trở lại vùng này, dân ở đây lại sống lầm than hơn xưa và vẫn tiếp tục là nạn nhân của chế độ quan liêu cửa quyền, vẫn nghèo xác xơ.

PV: Trong tất cả những khái niệm, từ ngữ thường được dùng đến bây giờ, như “tự do”, “độc lập”, “hạnh phuc”, “dân chủ”, “tình thương”, “cách mạng”, “vĩ đại”, “vinh quang”, “nỗi đau”, “căm thù”, “hòa giải”, “đoàn kết”…, từ ngữ nào đối với anh có ý nghĩa nhất?

TVT: Tôi có thể nói ngay với anh rằng một cái từ mà chúng ta phải phụng sự – mà đó là một từ cũ rích – từ “con người”.

Chúng ta hãy trở về với những từ thật đơn giản, nguyên thủy hơn, như từ “con người”. Trong muôn loài thì có loài người. Trong rất nhiều loại con thì có “con người”. Trong vũ trụ thì con người chỉ là một thực thể nào đó.

Nếu Lưu Quang Vũ còn sống, chắc anh còn viết được nhiều hơn về những điều này. Từ những tác phẩm cách đây 10-15 năm, Vũ đã từng viết: “Đừng có đánh mất mình tức là đừng có đánh mất con người”.

Nhìn kỹ lại cách mạng của Pháp 1789, đến nay đã 200 năm, lịch sử cũng không làm điều gì khác hơn là vật lộn với con người. Hãy tránh dùng mỹ từ anh ạ.

PV: Thế còn anh nghĩ gì về 'đổi mới'?

TVT: Câu hỏi này làm tôi nhớ lại câu hỏi của nhà báo Úc đã hỏi tôi cách đây hơn 2 năm sau liên hoan phim ở Đã Nẵng.

Anh biết không, lúc đó tôi trả lời là không riêng gì tôi mà phần lớn bạn bè của tôi đều nghĩ rằng: “Đổi mới tức là trở lại một số những cái cũ đã bị vùi dập hoặc bỏ quên”.

Đơn giản thôi, ông thấy cái gì đổi mới tại Việt Nam?

Tư nhân thì được kinh doanh, bác sỹ thì được mở phòng mạch, thầy giáo đôi nơi thì được mở trường tư, in lại sách cũ, trình bày lại một số nhạc phẩm thời xưa, mở rộng một số chính sách về đối ngoại, cho một số được đi du học hoặc du lịch tự túc… thì tôi thưa với ông rằng trước 75 tại miền Nam hay ở Hà Nội trước 54, tất cả những cái đó đều không phải là chuyện gì cả!

Như thế thì rõ ràng, đổi mới là trở lại những cái cũ đã bị bỏ quên chứ còn gì nữa. Nghe xong câu trả lời cà chớn đó của tôi, ông ta mỉm cười.

PV: Tôi nhận thấy trong tất cả những phim của anh mà tôi được xem từ trước đến giờ, anh rất thích dùng một chữ mà bản thân tôi cũng rất thích, đó là chữ “Tâm”. Trong “Hà Nội Trong Mắt Ai”, thì có ngòi bút tả Thiên Thanh, viết lên trời xanh một chữ tâm, trong “Thầy Bói Xem Voi” thì có “nếu tâm còn sáng”… Anh có thể khai triển thêm được không?

TVT: Chuyện này coi vậy mà nó lai rai lắm anh ạ! Sau nhiều năm chiến tranh, xã hội Việt Nam chúng ta có nhiều đổ vỡ về vật chất lẫn tinh thần.

Đổ vỡ vật chất – nói cho cùng – nếu chúng ta có chính sách đúng đắn tận dụng nhân tài, tranh thủ được đầu tư của trong nước lẫn ngoài nước thì cũng có thể dần dần khôi phục được.

Nói đến chữ “Tâm” tức là nói đến đạo đức xã hội, nói đến lòng người. Nhưng sụp đổ tinh thần sau bao năm chiến tranh, sau bao nhiêu sai lầm, tôi e rằng không bao giờ có thể xây dựng lại được.

Đối với người Việt Nam, cái mất mát lớn nhất bây giờ là lòng tin. Giả sử bây giờ nếu có ngoại xâm lần nữa, tôi ngờ ít mấy ai sẵn sàng hy sinh tất cả, sẵn sàng đem hết tất cả những gì mình có ra làm chướng ngại vật chống chiến xa như hồi kháng chiến chống Pháp năm 1946.

Người ta đã qua nhiều lần hy vọng rồi lại thất vọng, nên nếu ngay như bây giờ có một minh quân xuất hiện thì cũng chả có mấy ai tin.

Cái khó nhất hiện nay trong xã hội Việt Nam là làm sao khắc phục được lòng người. Đó là chữ “Tâm”.

PV: Có một ý nữa chung quanh chữ “Tâm”, anh còn nhớ người nhạc sĩ mù trong “Hà Nội Trong Mắt Ai”? Mắt có thể mù nhưng lòng còn trong sạch, tức là tâm còn sáng, thì vẫn còn có thể thấy được những điều mà người khác chưa chắc đã thấy.

TVT: Kỳ rồi, trong một cuộc phỏng vấn ở Anh, người ta đã hỏi tôi “điều gì làm tình hình Việt Nam khó đến như vậy”?!

Vì tôi không phải là người nghiên cứu kinh tế, chính trị, nên tôi chỉ có thể trả lời họ bằng những cảm nhận của một người làm điện ảnh có cơ hội cọ xát với nhiều giới.

Thật ra mình có thể kể cho họ về đủ thứ nguyên nhân – kinh tế, chính trị, lịch sử, dân trị… – nhưng với tôi, nguyên nhân lớn nhất hiện nay làm cho xã hội Việt Nam trì trệ là bệnh “SỢ” vẫn đang bao trùm.

Người ta đánh mất chính mình, người ta sống không thật. Nếu những người lãnh đạo mà có những cố vấn trung thực thì đất nước mới khá lên được.

Anh còn nhớ trong “Hà Nội Trong Mắt Ai”, trong đoạn về Quang Trung, tôi có nói rằng: “Quốc gia chỉ có thể trường tồn và hưng thịnh khi kẻ thường dân dám nói với bề trên điều ngay thẳng và người có quyền uy phải biết nghe kẻ dưới mình điều phải trái.”

Thật ra tôi chưa dám bàn tới chữ “Tâm” vì chữ “Tâm” còn cao hơn thế! Một đạo đức trung bình của xã hội như lòng trung thực mà còn chưa có thì miễn bàn về chữ Tâm”.

Cóp từ FB Tuệ Lãng

Tuesday, June 30, 2026

BA CUỘC CHIA CẮT- BA CÁCH TRỞ VỀ

 

BA CUỘC CHIA CẮT- BA CÁCH TRỞ VỀ

Kieu thi An Giang

(Thấy gì từ sự thống nhất qua ba quốc gia Đức, Hàn, và Việt Nam)

-

Tôi là người chứng kiến hai cuộc “thống nhất” của hai quốc gia. Một quốc gia tôi được sinh ra. Một quốc gia tôi trưởng thành và cũng là quê hương thứ hai của tôi.

Khi giải phóng miền nam, tôi còn nhỏ, hầu như không có dấu ấn gì đặc biệt. Ngoài việc bà tôi năm nào cũng nuôi một đàn lợn béo như tranh, để “thằng An giải phóng miền Nam về cưới vợ”. Ngày cờ đỏ sao vàng bay trên nóc dinh Độc lập, bà giết hết lợn, khao cả xóm.

Và cậu tôi không về nữa…

Thống nhất nước Đức thì tôi đã đủ nhận thức để hiểu chuyện gì xảy ra. Không phải với tư cách người đương thời, mà là, cái nhìn tỉnh táo của người đi qua hai cuộc chiến của hai quốc gia mà tôi đều yêu thương gọi là Tổ quốc.

Xin có vài nhận định thế này:

I. Khi đất nước bị chia làm hai: nỗi đau không của riêng ai

Trên bản đồ chính trị thế giới hiện đại, hiếm có quốc gia nào trải qua một nỗi đau lịch sử giống nhau đến thế: cùng một dân tộc, một ngôn ngữ, một cội rễ - lại bị chia đôi bởi những đường vĩ tuyến, bức tường bê tông, hay dòng sông lịch sử.

Ba quốc gia: Việt Nam, Đức, và Triều Tiên - là ba minh chứng rõ ràng nhất cho vết cắt chiến tranh để lại.

• Việt Nam: chia cắt từ năm 1954 theo Hiệp định Genève, sau chiến thắng Điện Biên Phủ.

• Đức: chia cắt sau Thế chiến II, thành Đông và Tây Đức - hai nửa đại diện cho hai cực của Chiến tranh Lạnh.

• Triều Tiên: sau năm 1953, Hiệp định đình chiến thiết lập đường ranh giới quân sự giữa Bắc - Nam tại vĩ tuyến 38.

Nhưng điều đặc biệt nằm ở chỗ: trong khi Bắc - Nam Hàn vẫn tiếp tục đối đầu căng thẳng như hai kẻ thù truyền kiếp, thì Đức đã thống nhất trong ôn hòa, còn Việt Nam thì về một mối bằng một cuộc chiến tranh kéo dài suốt hai thập kỷ.

Vì sao lại khác biệt đến thế?

II. Đức và Việt Nam: Hai con đường thống nhất- hai số phận hậu chiến

1. Cách thức thống nhất: Bạo lực hay đối thoại?

Việt Nam (1975)

Việt Nam thống nhất sau một cuộc chiến dài hơn 20 năm. Chiến tranh kết thúc ngày 30/4/1975 bằng chiến thắng quân sự của miền Bắc. Dù được ghi nhận là một chiến thắng “giải phóng dân tộc”, nhưng đây cũng là một thống nhất bằng vũ lực.

Cái giá phải trả là rất lớn: khoảng 3 triệu người Việt Nam thiệt mạng (tính cả quân và dân hai miền), hơn 300.000 liệt sĩ phía Bắc, và hàng trăm ngàn quân nhân miền Nam thiệt mạng hoặc mất tích.

Đức (1990):

Ngược lại, Đức thống nhất mà “không tốn một viên đạn.” Sự kiện Bức tường Berlin sụp đổ vào ngày 9/11/1989 là kết quả của phong trào biểu tình ôn hòa, sự tan rã của Liên Xô, và khát vọng tự do của người dân Đông Đức.

Ngày 3/10/1990, nước Đức thống nhất về mặt pháp lý: Cộng hòa Dân chủ Đức (Đông Đức) chính thức sáp nhập vào Cộng hòa Liên bang Đức (Tây Đức), với mô hình dân chủ và kinh tế thị trường.

2. Thái độ với bên kia sau thống nhất

Việt Nam:

Sau thống nhất, chính quyền mới ở miền Nam được tái cơ cấu toàn diện dưới mô hình XHCN. Hàng trăm ngàn quân nhân, công chức chế độ cũ bị đưa vào trại cải tạo - có người bị giam nhiều năm.

Cải tạo công thương nghiệp tư nhân, cải tạo tư tưởng văn hóa cũng được triển khai.

Một số chính sách được thực hiện với mục đích “xây dựng xã hội mới”, nhưng để lại tổn thương dai dẳng, nhất là ở những người từng sống và phục vụ chế độ Sài Gòn.

Đức:

Dù trên thực tế Tây Đức là bên “thắng cuộc”, nhưng nhà nước Liên bang Đức không tiến hành trả thù.

Chính sách “hòa nhập, không loại trừ” được triển khai:

• Cán bộ, công chức Đông Đức được xem xét tái hòa nhập.

• Chỉ một số ít bị loại trừ do liên quan đến Stasi - cơ quan mật vụ Đông Đức.

• Không có trại cải tạo, không có án tù hàng loạt.

3. Chi phí tái thiết: Ai chịu gánh nặng?

Đức:

Sau thống nhất, Tây Đức chấp nhận gánh toàn bộ chi phí tái thiết Đông Đức- một vùng đất trì trệ, thiếu hạ tầng và tụt hậu kinh tế.

• Chính phủ chi hơn 2.000 tỉ euro trong ba thập kỷ để hiện đại hóa miền Đông.

• Thuế đoàn kết (Solidaritätszuschlag) được áp dụng từ năm 1991- người dân Tây Đức phải đóng thêm 5,5% thuế thu nhập để hỗ trợ miền Đông.

• Các thành phố như Leipzig, Dresden, hay Erfurt dần hồi sinh, nhưng khoảng cách phát triển vẫn chưa xoá hẳn.

Việt Nam:

Sau thống nhất, Việt Nam bước vào giai đoạn bao cấp, bị cấm vận từ phía Mỹ và phương Tây, chiến tranh biên giới với Campuchia (1978) và Trung Quốc (1979) càng làm nền kinh tế kiệt quệ.

• Từ 1975 đến 1985 là giai đoạn cực kỳ khó khăn, lạm phát ba chữ số, thiếu đói diện rộng.

• Phải đến Đổi mới 1986, Việt Nam mới bắt đầu phục hồi kinh tế bằng cách chuyển sang kinh tế thị trường định hướng XHCN.

• Hơn 10 năm sau chiến tranh mới thực sự mở cửa giao thương, và đến năm 1995, quan hệ Việt- Mỹ mới được bình thường hóa.

III. Bắc- Nam Hàn: Một vết rạn chưa lành

So với Đức và Việt Nam, bán đảo Triều Tiên là biểu tượng của sự chia cắt chưa thể hàn gắn. Hai miền vẫn ở trong trạng thái chiến tranh lạnh, dù Hiệp định đình chiến đã ký từ 1953, thậm chí đối đầu, “kẻ thù truyền thống”…

• Không có thống nhất.

• Không có tiến trình hòa giải thực chất.

• Triều Tiên và Hàn Quốc phát triển theo hai hướng hoàn toàn đối lập: một bên độc tài khép kín, một bên dân chủ thịnh vượng.

Thậm chí đến hôm nay, Hàn Quốc và Triều Tiên vẫn không có đại sứ quán tại nhau, đường dây nóng chỉ hoạt động trong thời gian ngắn, và mỗi khi có sự kiện chính trị lớn, căng thẳng quân sự lại gia tăng.

IV. Nhìn lại: Thống nhất không phải là đích đến

Không có con đường thống nhất nào là hoàn hảo.

• Đức mất 30 năm và hàng ngàn tỉ euro để Đông - Tây hòa nhập.

• Việt Nam phải hy sinh rất nhiều, cả về người, về thời gian phát triển, và những vết thương tâm lý chưa lành.

• Triều Tiên - Hàn Quốc thì vẫn đang sống trong nỗi chờ đợi mỏi mòn.

Nhưng điều quan trọng là: thống nhất chỉ là điểm khởi đầu.

Quan trọng hơn là chúng ta đối xử với quá khứ như thế nào.

• Khoan dung không có nghĩa là quên.

• Nhìn thẳng vào lịch sử không có nghĩa là kết tội.

• Một quốc gia trưởng thành là quốc gia biết học từ nỗi đau - để không ai bị bỏ lại phía sau.

V. Và hôm nay, chúng ta viết tiếp trang sử ấy…