Thursday, April 9, 2026

Kể chuyện ĐỒNG TÂM và cụ Lê Đình Kình

 

- André Menras / Hồ Cương Quyết — published 28/03/2026 23:30, cập nhật lần cuối 02/04/2026 20:27

Nhân dip ra mắt phim Vietnam au coeur

 

 

Kể chuyện ĐỒNG TÂM

và cụ Lê Đình Kình

 

André MENRAS Hồ Cương Quyết

 

LTS – Cuốn phim tài liệu VIETNAM AU COEUR (Việt Nam trong tim tôi)  sẽ ra mắt khán giả Câu lạc bộ YDA
tại rạp Grand Action (5, rue des Ecoles, 75005 Paris) 16g ngày thứ bảy 4.4.2026. Cuốn phim dành một
trường đoạn về cụ Lê Đình Kình và cuộc đấu tranh của làng Đồng Tâm chống lại sự cưỡng đoạt của
chính quyền và tập đoàn Viettel.

 

Các bạn Diễn Đàn hỏi tôi tại sao trong cuốn phim VIETNAM AU CŒUR vừa thực hiện, tôi đã dành cả một trường đoạn về cụ Lê Đình Kình, về thảm kịch làng Đồng Tâm ? Đơn giản, đó là một trải nghiệm cay đắng trong đời tôi với đất nước Việt Nam, và tôi chắc chắn nó sẽ được khắc ghi vào lịch sử Việt Nam như một sự kiện đau buồn, đồng thời cũng là tấm gương kiên định phi thường của người nông dân, qua bao thế kỷ, chưa hề khuất phục trước bạo quyền (bất luận là Việt Nam hay ngoại quốc), bền bỉ giữ gìn đất đai của mình. 

Tôi đã nói và viết về Đồng Tâm, nhưng trong phim này, tôi muốn hình ảnh cho thấy niềm đau, nỗi kinh ngạc và cơn phẫn nộ, vì hình ảnh nói thật và nói mạnh hơn ngôn từ, chữ nghĩa.

Như chính cụ Lê Đình Kình, vài phút trước khi bị thẳng tay bắn chết trên giường, đã nói để trấn an cụ bà : “ Đảng sẽ không làm vậy đâu, có pháp luật chứ…”. Không lạc quan như cụ Kình, nhưng tôi vẫn mong rằng trước sự kháng cự của nhân dân, chính quyền sẽ không phản ứng tàn bạo và kinh khủng đến thế.

Duyên nợ của tôi với làng Đồng Tâm bắt đầu trong một cuộc họp bạn tại căn hộ của nhà văn Phạm Toàn, Hà Nội. Trong bữa ăn, câu chuyện xoáy quanh một trong những tệ nạn quốc gia của Việt Nam : việc trưng dụng, cưỡng đoạt phi pháp đất đai của nông dân, mà thủ phạm là những cán bộ tham nhũng móc nối với bọn đầu cơ. Các bạn đã nêu ra những vụ việc đã và đang xảy ra. Đó là lần đầu tiên tôi nghe nói tới làng Đồng Tâm : nông dân ở đây kiên quyết chống lại tập đoàn Viettel của quân đội và những nhóm lợi ích, họ khởi kiện từ năm 2013, nhưng chính quyền và tòa án cứ mập mờ cù cưa, vụ công an dã chiến tấn công lần đầu hồi tháng tư 2017, đánh đập làm cụ Lê Đình Kình bị thương nặng (cụ trở thành tàn tật) rồi bắt giam cụ, khiến dân làng (nhất là những phụ nữ tay không) đã phản ứng bằng cách « cầm giữ » trong làng 38 cảnh sát dã chiến, bộ đội và nhân viên an ninh. Những lời hứa hão, những cam kết long trọng bị lật ngược, những vu khống của cán bộ cao cấp của chính quyền Hà Nội, cơ quan tư pháp và tướng lĩnh quân đội.

Trong suốt những năm trước đó, tôi đã nghe nói về những vụ lừa đảo quy mô của bộ máy chính quyền, dùng bạo lực cướp đoạt đất đai và nhà cửa của những người dân đàng hoàng (Thủ Thiêm, vườn rau Lộc Hưng, cũng như ở Bình Dương, Dương Nội (gần Hà Nội), hay Tiên Lãng (Hải Phòng). Tôi nghĩ Đồng Tâm ở gần Hà Nội cũng sẽ chỉ là một vụ phản đối tương tự. Khi tôi hỏi các bạn có thể dẫn tôi đi thăm Đồng Tâm hay không, họ không do dự, nhưng đã cảnh giác tôi là sẽ nguy hiểm. Công an đã vây bủa khoanh vùng. Từ khách sạn của tôi ở khu phố cổ Hà Nội, các bạn đã đi xe hơi đến đón tôi. Sau một vòng, tôi chuyển sang ngồi « xe ôm » ra một địa điểm ngoại thành, từ đó lại lên xe hơi, cuối cùng là cưỡi xe máy đến làng Đồng Tâm. Tại đây, khoảng hai chục người đứng đón tôi ở ngoài sân, và trong phòng, khoảng ba mươi người ngồi quây quần chung quanh cụ Lê Đình Kình. Chòm râu bạc như chòm râu Bác Hồ, cụ Kình tươi cười ngồi giữa những người thân. Một bạn nói đôi lời giới thiệu tôi, nhưng xem ra mọi người đã biết và đợi tôi. Suốt hơn một giờ, tôi cố gắng không để sót một hình ảnh, một lời nói nào của cụ, kể lại cuộc đấu tranh. Đầu óc minh mẫn, trí nhớ phi thường, không bỏ sót một tên người, một địa danh, cụ kể lại quá trình sự kiện đã dẫn tới tình trạng bế tắc hiện nay. Cụ nhắc lại chi tiết diễn biến những quyết định pháp lý mâu thuẫn của chính quyền, nói qua về cuộc tấn công đã khiến cụ trở thành tàn tật. Hiển nhiên người đảng viên lão thành ấy được mọi người dân làng quý trọng, cụ đã bảo vệ lập trường của người dân một cách thông tuệ và kiên quyết. Nhưng càng nghe cụ nói, tôi càng thấy lo lắng và linh cảm những hậu quả không hay. Đối với chính quyền cấp cao, sự phản kháng của dân làng Đồng Tâm mang một chiều kích khác với nơi khác. Đây không phải là Lộc Hưng của những người Công giáo di cư mà người ta có thể dễ dàng chụp mũ chống chế độ. Ở Đồng Tâm, đông đảo quần chúng đoàn kết chung quanh một con người được mọi người quý trọng, có tâm có tài, cựu chiến binh, hơn 50 năm tuổi đảng. Họ không phải là một gia đình, hay vài gia đình cấu kết lại. Họ đa số đều là đảng viên, lặp lại những khẩu hiệu của Đảng, những tuyên bố chống tham nhũng của Tổng bí thư Đảng cộng sản, kêu gọi toàn dân đoàn kết chống tham nhũng. Chỉ có một cách duy nhất giải quyết bế tắc là áp dụng luật pháp nghiêm minh của một Nhà nước pháp quyền. Nhưng thứ luật mà chính quyền nêu ra xem ra là luật rừng của tập đoàn Viettel. Tuy nhiên, trong cuộc phỏng vấn ngày 8 tháng 3 năm 2019, cũng như người dân làng, tôi vẫn mong rằng khả năng xấu nhất, bạo lực cực điểm; không thể xảy ra. Và khi chụp ảnh kỷ niệm, tôi bắt tay bái biệt cụ Kình, tôi tâm niệm sẽ được gặp lại cụ.

Nhưng rất nhanh chóng, chính quyền đã đánh tan giấc mơ về một giải pháp khôn ngoan, hòa bình. Họ đã gửi ngay cho tôi một thông điệp khiến tôi càng thêm lo lắng. Khi tôi ra sân bay Nội Bài để rời Hà Nội, tôi được gọi tên qua loa « đến kiểm tra hành lý ». Người kiểm tra là ba cán bộ công an, một nữ hai nam. Hành lý là chuyến đi thăm Đồng Tâm của tôi. Họ rất lễ độ, thậm chí hơi lúng túng, gọi tôi bằng « bác », và tói gặp tôi theo chỉ thị của cấp trên. Người phụ nữ trẻ tuổi điều khiển cuộc nói chuyện nói chị ta biết là tôi đã quay phim cuộc phỏng vấn cụ Kình. Cũng thừa nhận là năm 2017 đã xảy ra vụ công an bạo hành dân làng, song « bạo hành là do cả hai bên ». Tôi nói tôi rất phẫn nộ trước việc Đảng bạo hành một đảng viên cộng sản lão thành chỉ vì ông cụ bảo vệ ruộng đất của mình và của dân làng. Tôi nói đến Nhà nước pháp quyền. Tôi yêu cầu ghi âm những lời phản đối của tôi và chuyển tới cấp trên thì họ từ chối. Tôi nói nếu quả như chị nói « bạo hành là do cả hai bên » thì cho tôi gặp một công an bị nông dân bạo hành, tôi sẽ phỏng vấn và cho vào phim. Người nữ công an nhận lời, nhưng sau đó yêu cầu của tôi không được thực hiện. Kết thúc cuộc đối thoại, một trong hai người nam chưa nói gì,  đã chuyển cho tôi « thông điệp » sau đây, xưng hô vẫn là bác cháu lễ phép : « Bác cũng hiểu là nếu bác làm gì có hại tới uy tín của Đảng, bác sẽ phải chịu trách nhiệm về mọi hậu quả ». Lúc đó tôi mới hiểu rằng những lo lắng của tôi là có cơ sở.

Linh cảm như vậy nên một ngày sau khi về tới Paris, 8 tháng một 2020, tôi đã gửi một lá thư viết tay cho đại sứ Nguyễn Thiệp ở Paris. Sau đây là một trích đoạn : « …Không đi sâu vào việc xem xét các quy trình phức tạp và trái ngược nhau, cũng không suy xét giá trị các tuyên bố của những lãnh đạo và cán bộ thành phố, tôi chỉ xin nhấn mạnh về sự khẩn thiết phải đi tới một giải pháp công bằng, không bạo động, cho cuộc xung đột mang tính bùng nổ này. Làm sao tránh được đổ máu, một nguy cơ xem ra gần kề. Tháng ba năm ngoái, tôi đã gặp nhân dân Đồng Tâm, chăm chú nghe quan điểm những người lao động và tìm hiểu tình hình thực địa. Đó là những người dân hiền hòa, lương thiện, yêu đất nước như yêu chính mình. Tôi hiểu họ quyết tâm tự  bảo vệ. … Tôi ủng hộ nhân dân Đồng Tâm… ».

Tôi không hề nhận được hồi âm. Sáng hôm sau, là cuộc tấn công tàn sát. Thật kinh hoàng. Trên màn hình của đài VTV1, là những cuộc thẩm vấn, những lời thú tội cưỡng ép, khuôn mặt sưng vù của hai người con trai cụ Kình, Lê Đình Công, Lê Đình Chức và người con gái nuôi Bùi Thị Nối. Tên tôi, Hồ Cương Quyết được công khai khẳng định là đồng lõa và tôi nhận được những lời đe dọa qua mạng. Sau đó tôi đã theo dõi phiên tòa được dàn dựng với 19 người bị bắt, các luật sư bị côn đồ của công an sách nhiễu trên đường đi tới tòa án. Cuỗi cùng là bản án : tử hình cho hai người con trai, chung thân cho người cháu nội. Tru di tam tộc, theo đúng truyền thống phong kiến ở Trung Quốc và Việt Nam.

Những tuyên bố dối trá và mâu thuẫn của những tướng lĩnh, các cuộc điều tra độc lập bị nghiêm cấm, những đám tang bị công an kềm kẹp. Tôi còn theo dõi việc bắt bớ những người đi tìm sự thực và phát biểu, như nữ ký giả Phạm Đoan Trang và bản « báo cáo Đồng Tâm », bị kết án 9 năm tù giam, những người lên tiếng đoàn kết như gia đình bà Cấn Thị Thêu và hai con trai Phương và Tư, cả ba đều bị án nặng. Tất nhiên, người ta cấm đoán mọi cố gắng chi viện bà quả phụ và thân nhân mất hết các nguồn thu nhập : chị Nguyễn Thúy Hạnh kêu gọi quyên góp, gửi khoảng 20 000 đô la vào tài khoản Vietcombank. Đảng ra lệnh chặn tài khoản với lý do « tài trợ khủng bố », đến hôm nay, tài khoản này vẫn bị phong tỏa. Bà Hạnh bị sách nhiễu liên tục trước khi bị bắt giam và kết án ba năm tù (phần lớn thời gian này ở bệnh viện tâm thần). Tôi có thể liệt kê nhiều trường hợp khác, cho thấy giới lãnh đạo Đảng, công an và quân đội đã chuẩn bị kỹ càng một cuộc hành quân chống lại cả một làng xã hòa bình nhưng cứng đầu (đưa ra nào lựu đạn, dao kéo, nông cụ, thùng xăng như chiến lợi phẩm để báo chí nhà nước rêu rao là bằng chứng của những hành động khủng bố). Không những thế, có lẽ họ cũng dự kiến cuộc tấn công sẽ gây ra phản ứng phẫn nộ của dư luận và sáng kiến hỗ trợ gia đình nạn nhân, nên họ đã chuẩn bị bắt giam những nhà hoạt động dân chủ mà họ đã theo dõi từ trước.

Nhìn lại, có thể nói lá thư tôi gửi đại sứ Nguyễn Thiệp quả là ngây thơ, vì bản thân ông đại sứ cũng không thể làm được gì : mọi việc đã được cấp trên của ông quyết định rồi. Cho nên, mỗi lần câu chuyện Đồng Tâm được gợi ra, tôi lại nhớ tới cái nhìn tin cậy của Lê Đình Kình khi cụ gọi tôi bằng hai tiếng « đồng chí ». Tôi còn cảm thấy bàn tay mảnh khảnh của cụ nắm chặt tay tôi lúc chia tay, tôi tự trách mình bất lực, đã không gây được tiếng vang đủ để ngăn chặn sự việc. Tôi nghĩ tới lá   cờ giải phóng mà tôi đã giương cao, nghĩ tới vết nhơ mới xảy ra này. Tôi cảm thấy bị phản bội, thóa mạ, hổ thẹn. Chính vì vậy mà mỗi lần ra bắc, tôi đặt hoa trước mộ cụ Kình, vào làng thăm cụ bà, nói đôi lời an ủi. Đó cũng là lý do tại sao bà có mặt trong cuốn phim, nói lên nỗi đau, kể lại sự thực về cái đêm hôm ấy tại ngôi nhà còn mang nhiều chứng tích. Bà có quyền nói, bà phải nói : đêm hôm ấy công an đã bịt chặt miệng bà trong lúc họ giết chồng bà, cướp đi con cháu bà.

André Menras / Hồ Cương Quyết

Thursday, April 2, 2026

Nhà thơ Hữu Loan khóc giữa Sài Gòn

 

Sang Nguyễnbá ·

Follow

March 29 at 7:16 AM ·

Nhà thơ Hữu Loan khóc giữa Sài Gòn

* * *

Lời giới thiệu của NNC:

Nói đến Nguyễn Hữu Loan, tức nhà thơ Hữu Loan, người ta liên tưởng đến bài thơ “Màu tím hoa sim” được ông sáng tác vào năm 1949 tại Thanh Hoá với lời đề tặng “Khóc vợ Lê Đỗ Thị Ninh”. Bà là con gái cụ Lê Đỗ Kỳ, cùng công tác tại Uỷ ban tỉnh Thanh Hoá sau Cách mạng tháng Tám với Hữu Loan.

Cụ Lê Đỗ Kỳ có người con trai cả là Lê Đỗ Khôi, hy sinh tại Điện Biên Phủ 5 tiếng đồng hồ trước khi quân ta cắm cờ trên sở chỉ huy của Pháp. Tiếp đó là Lê Đỗ Nguyên, tức Trung tướng Hồng Cư. Em ông Cư là Lê Đỗ An, tức Nguyễn Tiên Phong, sau là Bí thư Trung ương Đoàn TNCS HCM. Em ông Nguyên là Đại tá Lê Đỗ Thái. Hai ông Hồng Cư và Lê Đỗ Thái hiện sống ở Hà Nội và đều lấy con gái GS. Đặng Thai Mai.

Bài thơ phổ biến tại Miền Nam không những qua sách báo, mà còn được phổ nhạc, hát rộng rãi trên đài phát thanh, các buổi trình diễn văn nghệ trên sân khấu, nhất là vào những năm thập niên 60 của thế kỷ 20. Bài thơ đả được các nhạc sĩ Dzũng Chinh, Phạm Duy, Anh Bằng, Duy Khánh, Nguyễn Đặng Mừng, Thu Hồ, Hồng Vân... phổ nhạc.

Bản “Màu tím hoa sim” thời ấy ngắn hơn bản tác giả công bố sau này. Bản cũ chấm hết ở mấy câu: “Tôi hát trong màu hoa. Áo anh sứt chỉ đường tà. Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu” chứ không có thêm “Tôi ví vọng về đâu. Tôi với vọng về đâu. Áo anh nát chỉ dù lâu...” ở cuối bài như sau này:

“Khóc vợ Lê Đỗ Thị Ninh”

Nàng có ba người anh đi bộ đội

Những em nàng

Có em chưa biết nói

Khi tóc nàng xanh xanh

Tôi người Vệ quốc quân

xa gia đình

Yêu nàng như tình yêu em gái

Ngày hợp hôn

nàng không đòi may áo mới

Tôi mặc đồ quân nhân

đôi giày đinh

bết bùn đất hành quân

Nàng cười xinh xinh

bên anh chồng độc đáo

Tôi ở đơn vị về

Cưới nhau xong là đi

Từ chiến khu xa

Nhớ về ái ngại

Lấy chồng thời chiến binh

Mấy người đi trở lại

Nhỡ khi mình không về

thì thương

người vợ chờ

bé bỏng chiều quê...

Nhưng không chết

người trai khói lửa

Mà chết

người gái nhỏ hậu phương

Tôi về

không gặp nàng

Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối

Chiếc bình hoa ngày cưới

thành bình hương

tàn lạnh vây quanh

Tóc nàng xanh xanh

ngắn chưa đầy búi

Em ơi giây phút cuối

không được nghe nhau nói

không được trông nhau một lần

Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím

áo nàng màu tím hoa sim

Ngày xưa

một mình đèn khuya

bóng nhỏ

Nàng vá cho chồng tấm áo

ngày xưa...

Một chiều rừng mưa

Ba người anh trên chiến trường Đông Bắc

Được tin em gái mất

trước tin em lấy chồng

Gió sớm thu về rờn rợn nước sông

Đứa em nhỏ lớn lên

Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị

Khi gió sớm thu về

cỏ vàng chân mộ chí

Chiều hành quân

Qua những đồi hoa sim

Những đồi hoa sim

những đồi hoa sim dài trong chiều không hết

Màu tím hoa sim

tím chiều hoang biền biệt

Có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa

Áo anh sứt chỉ đường tà

Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu

Ai hỏi vô tình hay ác ý với nhau

Chiều hoang tím có chiều hoang biết

Chiều hoang tím tím thêm màu da diết

Nhìn áo rách vai

Tôi hát trong màu hoa

Áo anh sứt chỉ đường tà

Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu...

Màu tím hoa sim, tím tình trang lệ rớm

Tím tình ơi lệ ứa

Ráng vàng ma và sừng rúc điệu quân hành

Vang vọng chập chờn theo bóng những binh đoàn

Biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím

Tôi ví vọng về đâu

Tôi với vọng về đâu

Áo anh nát chỉ dù lâu...

* * *

Bài viết của Cung Tích Biền:

Thật hạnh ngộ khi chúng tôi được gặp nhà thơ Hữu Loan, tác giả bài thơ Màu Tím Hoa Sim, cùng một số vị trong vụ án Nhân văn – Giai phẩm, những năm từ 1957 về sau, trên đất Bắc.

Sau tháng Tư 1975, trước khi nhà thơ Hữu Loan có dịp vào Nam, đã có một số thân hữu từ miền Nam ra Bắc thăm ông. Khó có thể mô tả cảnh nghèo khó của gia đình ông thuở ấy, lại khó hình dung ra cái tình cảnh cô đơn của một Hữu Loan bị chính quyền cô lập trong bao nhiêu năm.

Ông vào thăm Sàigòn khá muộn màng, có thể do điều kiện kinh tế quá khó khăn. Anh em chúng tôi có dàn xếp một ngày để tiếp ông. Cà phê sáng, dùng cơm trưa, buổi chiều đưa ông đi dạo chơi đó đây. Thuở ấy chỉ toàn xe đạp, sang trọng tí chút là xe gắn máy. Ông rất hồi hộp khi ngồi yên sau xe gắn máy. Ông luôn bảo “Đèo nhau xe đạp, chậm rãi, thì bình an hơn”.

Quán cà phê vườn khá rộng. Khi anh Duy đưa Hữu Loan tới, quanh bàn chúng tôi đã có Tô Kiều Ngân, Bùi Giáng, mấy anh em văn nghệ, có cả một lúc có hai cô, Huyền Tr. và Thúy V. một cô là ca sĩ, cô kia đang là diễn ngâm thơ cho đài phát thanh, trong các chương trình thi ca.

Hữu Loan, thoạt nhìn như một pho tượng, sạm một màu đất nung. Khuôn mặt chữ điền, tóc dài, trán rộng, sống mũi thẳng, cao. Tôi nghiêng người chào ông. Ông nở nụ cười. Một nụ cười cẩn thận, nói rằng thân thiện là chưa đúng. Một cái bắt tay của giao tế, dè chừng. Sống ở miền Nam, sau cơn dâu bể, nay gặp anh trở về, gặp chị ngoài kia vô, chào một nhà văn xứ Bắc vừa chạm mặt, tôi nhận ra tất cả họ đều có một hành xử khá giống nhau.

Bây giờ ông đang trước mặt. Với ly cà phê đen, bữa nay tôi có cái để mà Nhớ Lại, có cái để được Ngắm Nhìn. Hữu Loan, Ông từ đâu tới!

Trò chuyện với Hữu Loan, mến ông là một người khá hiểu biết về văn chương, học thuật. Dễ là chốn tri âm, tương phùng. Có thể do ông là người có học hành tử tế, trưởng thành vào thời kỳ nước nhà còn lưu giữ những nền móng đạo lý, những thứ vốn văn hóa quý hiếm của giống nòi.

Một ngày gặp gỡ. Bữa trưa uống một trận bia. Chiều đưa ông thăm chơi đó đây. Buổi tối ghé một quán vườn, rất đông anh em. Sáng hôm sau ông ghé tôi. Chúng tôi cùng uống cà phê, ăn sáng. Nhà tôi ngay đường Nguyễn Huệ nên nhà hàng Givral cũng gần. Vào quán, ông đầy vẻ ngỡ ngàng. Xem thực đơn, ông nói, “Tôi không biết gọi gì, anh gọi dùm”.

Tôi gọi cho ông ly cà phê sữa, bánh mì vuông, một đĩa thịt nguội, patê, xúc xích. Lúc này chúng tôi cũng đang túng thiếu, nhưng tiếp ông, tôi phải “bề thế” tí chút. Chẳng lẽ mấy mươi năm ông nhai củ mì ngoài Bắc, giờ này tôi mời ông mấy củ khoai lang trộn bo bo!

Tôi nhường ông ngồi ghế bên trong, nhìn ra đường, quang cảnh góc đại lộ Lê Lợi và Tự Do. “Sàigòn nó to rộng thế đấy”. Bên kia là Continental khách sạn thuộc loại cổ nhất Sàigòn, nhà Hát Tây [tòa nhà Hạ nghị viện thời Cộng Hòa], khách sạn Caravelle. Ông mãi nhìn cảnh đẹp bên ngoài, lại nhìn đĩa thịt nguội. Chừng không muốn ăn. Tôi giục ông ăn chút gì kẻo đói bụng.

Ông nói: “Anh cho tôi nhìn một hồi đã. Bao nhiêu năm tôi mới thấy cái món lạ lùng này”. Ông ăn một cách khó khăn. Chừng từ lâu không quen với dao nĩa. Tôi bèn gọi một đĩa tương tự, rồi bốc mà ăn, ý hô hào ông cùng bốc mà ăn.

Nhìn ông, tôi lại nhớ nước mắt của ông buổi sáng hôm qua. Lúc trò chuyện, tôi nói nhỏ với Thúy V. “Em nên ngâm bài Màu Tím Hoa Sim của chính Hữu Loan để tặng ông”.

Trong quán có cây đàn ghi-ta. Vũ D. đệm đàn. Tô Kiều Ngân rút cây sáo trúc “nhà nghề”, dìu giọng người ngâm thơ. Giọng Thúy V. mượt mà, khá trữ tình. Nghe ngâm thơ của mình, từ mấy mươi năm bị chế độ cấm phổ biến trên đất Bắc, Hữu Loan ngậm ngùi. Bất ngờ ông bật tiếng khóc.

Khuôn mặt như một phiến đá chỗ lòng suối cạn. Khó lòng thấm nước. Nhưng những hạt trong vắt cứ trôi xuống má. Ông có vẻ sờ soạng. Một bàn tay thò vào túi. Không có gì. Hai bàn tay thô tháp chỉ run run, ông kéo cái chéo áo ka-ki màu chàm, vải nhám, chừng cũng bẩn do mặc lâu ngày, đưa lên lau nước mắt…

Nhà thơ Hữu Loan qua đời vào trung tuần tháng 3 năm 2010 tại quê nhà, hưởng thọ 94 tuổi. Phùng Quán ra đi ngày 22 tháng 1 năm 1995. Trần Dần mất ngày 17 tháng 1 năm 1997. Cùng những ngày của mùa xuân. Phan Khôi, Văn Cao, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Nguyễn Hữu Đang…và nhiều nữa… những thành phần trụ cột của Phong trào “Đi Tìm tự do tư tưởng, đòi hỏi nhân quyền”, là đỉnh cao của văn hóa, cội nguồn, nay đã ra người thiên cổ.

Thiên cổ, là Bên Kia của hiện thực bên này ư? Bên kia, ai có nhớ về? Hoài niệm, bảo tôi nghĩ và viết những dòng này.

(Hình ảnh do NNC sưu tầm trên mạng)