Wednesday, July 1, 2026

Hương khói một thời ( NDM )

 

 

Hương khói một thời

 

Nguyễn Đặng Mừng



Nhà chị tôi cách trường Nguyễn Hoàng khoảng 400 m. Hè năm 1970, tôi ra ở nhà chị để thi vào trường NH. Thời đó học trò trường tư chỉ có 5 % được thi tuyển vào lớp 10 trường NH. Nhà chị  tôi có cái giếng  trong, cà xóm đều tới đó gánh nước. Anh chị tôi thường đi vắng. Tôi ra giếng treo võng đọc sách dưới tàng cây ổi. Buổi chiều, có con bé khoảng lớp tôi gánh đôi thùng tới, giọng trong veo, “anh chi đó ơi cho em xin đôi nước”. Tôi cười và nói cô tự nhiên. Tôi lại đọc sách tiếp, giả đò không thèm để ý con gái, nam nhi mà. Cô ấy múc đầy nước, rồi chào anh em về nghe. Chữ “nghe” cao lên, lảnh lót như tiếng chim.  

 

Em quẩy thùng nước đi rồi mới thấy lòng mình chao động theo bước chân trần, chơi vơi nhịp gánh. Hai thùng nước đầy sóng sánh có mấy vệt nước rơi vãi ra ngoài. Thương chi lạ.

 

Đêm lại mơ tưởng, mộng mị lung tung, ba giờ sáng tôi đã thức giấc, nằm lơ mơ nghe từng tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ quả lắc. Con gà gáy tiếng rất khàn. Con gà trống mạ tôi gửi để ăn mừng ngày tôi xong đệ nhất cấp, nó có biết vài ngày nữa chết không, mà gáy tiếng khàn khàn buồn bã thế.

 

Rồi chiều mai cũng tới, nhưng chậm hơn, do lòng mình cứ ngóng trông. Bốn giờ chiều tôi đã tắm rửa, chải tóc, mặc bộ đồ đẹp nhất ra dưới tàng cây ổi “đọc sách”. Hôm đó đọc Gió Đầu Mùa của Thạch Lam…, chẳng có chữ nào vào đầu, chỉ trông chờ em gánh nước. Nước đầy cả giềng, cần chi xin. Nhưng em vẫn lễ phép, “anh chi đó ơi, cho tui xin đôi nước”. Tôi bật dậy khỏi võng chào em lí nhi : “Cô cứ tự nhiên”. Em cười, cái răng khểnh như nở hoa sau làn môi đỏ mọng. “Anh học trường mô”. Tôi ngập ngừng không biết trả lời sao cho thân thiện, bèn nói đại : “Niên khóa tới tôi sẽ học Nguyễn Hoàng”. Nói rồi mới thấy mình dại, mới thi xong chắc chi đã đậu. “Anh học ban chi. Em cũng học lớp 10, ban B”. Lỡ rồi, nói đại luôn, “Tui học ban C”. “Hi hi, Mấy anh ban C là lãng mạn lắm”.  Đứng đối diện thành giếng, em vừa múc nước vừa chuyện trò. Cái áo rộng cổ của em hé một chút bờ ngực mỗi lần em cúi xuống múc nước. Nói thiệt, từ nhỏ tôi chưa bao giờ thấy bờ ngực trần con gái. Hồi đó con gái ăn mặc kín đáo lắm. Tôi trân người, cuốn sách trên tay rơi xuống nước. Tôi xấu hổ sợ em biết ý đồ của tôi. Mà tôi có ý đồ gì đâu, chỉ “chộ” chớ không phải cố nhìn.

 

Ngày sau rồi ngày sau nữa, em vẫn tới gánh nước, nhưng luôn mặc áo sơ mi gài nút tới cổ. Chúng tôi vẫn nói chuyên trên trời dưới đất. Có lần nói chuyện đến 20 phút. Cô em thấy chị lâu về bồng em chạy ra tìm, hỏi “răng lâu rứa, mạ la tề”. Cô chị nói dối, “Đang hỏi anh về… bài thơ…”. Cô em lườm cái bồng em quay đi. Em lại cười, “chào anh em về. Khi mô rảnh qua nhà em chơi, ba mạ em quý bạn bè em lắm”. Trời, sướng muốn xỉu.

 

Những tưởng đời vui lắm. Ai ngờ !

 

Em đi học cùng đường với tôi, mặt có khi như lạ, như quen. Đôi mắt trong veo đen láy khi cười rạng rỡ, khi buồn hiu hắt, xa xôi. Chạm mặt nhau chỉ gật nhẹ đầu. Không ai chào ai, như người lạ. Con gái Quảng Trị “nết na”, oan nghiệt thế, mới đau. Đôi guốc cao gót làm dáng em khoan thai hơn, như rướn người lên trong tà áo dài tha thướt. Sáng nào tôi cũng ra đầu ngõ canh em rồi theo sau, cách khoảng vài chục thước cho an toàn. Thế mà em cũng biết, thỉnh thoảng quay lui, cười nhẹ cái.

 

Cho đến một ngày, em khóc rống lên, ở nhà xác Tiểu khu QT, ba em chết trận. Tôi đứng ngoài hàng rào kẽm gai, thấy em vật vã, em cúi xuống lạy cha, em bật lên hung dữ. Tôi không còn thấy chiếc răng khểnh, không tơ tưởng gì đến cây ổi, và giếng nước ngày thơ. Tôi khóc nức nở vào chiều đông năm ấy, đạp xe theo quan tài đi trong mưa gió, hơn mười cây số về quê em. Tôi lại đạp xe một mình trong mưa gió chạy về cho kịp, thời đó ban đêm không ai dám ra đường.

 

Ôi. Tôi  sẽ đến nhà em như lời hẹn ước, như lời mời hồn nhiên của Em. Phải chi còn Ba, nhỉ.

 

Mấy ngày đi học không có em phía trước, buồn và thương em đứt ruột. Đầu tuần lại thấy em đi học với chiếc khăn tang. Gặp tôi đầu ngõ em chỉ khóc, không nói gì. Vẫn em đi trước, tôi theo sau. Mắt tôi nhòe đi. Bóng áo trắng như dải khăn tang chấp chới phía trước, lao đao lung linh lờ mờ nhang khói. 

 

Chiều về em lại qua gánh nước. Em lặng lẽ múc nước. Nghe rõ tiếng nước lách tách trào ra chảy ngược xuống giếng. Đôi vai em mệt mỏi theo từng tao giây gàu. Chiếc khăn tang trễ xuống trên vầng trán hanh hao. Đôi mắt buồn rượi nhìn tôi không nói gì. Tôi hỏi câu vô duyên : “Bài vở em có theo kịp không”.  Em nói : “Em không thiết học hành gì nữa, chắc em nghỉ học để lo cho các em”.

 

Lần cuối em gặp tôi vào một đêm trăng, em đi gánh nước trễ hơn. Em nói “mai em về quê với Mạ, để hương khói cho Ba, và săn sóc ôông mệ nội, gần tám mươi tuổi rồi. Em phải bỏ học. Nhớ trường nhớ bạn lắm nhưng biết mần răng đặng chừ. Bé Lĩnh (tên đứa em gái) gửi lại cho Dì để tiếp tục đi học. Em còn hai em gái nhỏ, Mạ một mình mần răng lo nỗi. Tội nghiệp ôông mệ, chưa có cháu trai đích tôn. Em về quê, sáng đi học anh có còn nhớ em không. Sáng mô em đi học cũng có ý chờ anh, và biết sau lưng khi mô cũng có anh theo. Em biết anh thương mạ con em. Hôm đang quỳ làm lễ trước quan tài ba, thấy anh cứ lấp ló nhìn em, rồi anh lên lúc mô không hay. Em chạy ra đường anh đã xa rồi. Thấy anh đạp xe chạy trong mưa thương lắm”. Bé Lĩnh chạy qua nói, “ Chị ơi, Mạ nói chị cứ nói chuyện với anh đi, mai nhà mình về làng rồi, để em gánh nước về cho”. Tôi  không nói được câu nào, chỉ cầm tay cùng em khóc miết. Tôi đưa em một đoạn về nhà, em bảo, “mời anh vô nhà đi, đừng sợ, từ ngày Ba mất mạ cứ nhắc anh đó, vô đi”. Tôi theo em vào nhà. Di ảnh của Ba em khói hương nghi ngút. Mạ em đang thắp nhang, quay ra “chào cháu”. Tôi vẫn đứng yên lí nhí “dạ”. Em bảo, “Anh thắp nhang cho Ba đi”, em đưa tôi cây nhang, tôi vái lạy rồi quay ra cùng gia đình ăn chè đậu huyết. Mạ em nhìn tôi sửng sốt, hỏi “Cậu tên gì” “Dạ tên M”. “Năm ni cậu mấy tuổi”. “Dạ mười bảy”. Bà nói : “Con trai tuổi Tỵ là gian nan lắm, bác trai cũng tuổi Tỵ, hơn cậu hai giáp, nhọc nhằn cả đời, cho đến lúc chết tiền lương tháng trong bóp vẫn còn nguyên, chưa tiêu đồng mô hết”. Con Mai tuổi Ngọ, chắc đời con cũng như đời Mạ”. Bà hưng hức khóc. Mai và Lĩnh cũng nhòe nước mắt. Bà chậm rãi “Con Mai và con Lĩnh sinh ở đây, bác trai nói đặt tên Mai Lĩnh để mai lớn khôn biết nhớ núi nhớ sông, “Núi Mai, Sông Lĩnh”, nhớ nguồn cuội của mình là dân Quảng Trị”.

 

Hai tuần vắng em, đêm nào tôi cũng nằm chiêm bao thấy em chít khăn tang khóc vật vã. Có khi thấy em cười như mếu, chiếc răng khểnh như búp hoa nhài chưa nở  mà sao héo buồn thế. 

 

Sáng  chủ nhật hôm đó tôi đạp xe mười câu số về làng em. Tháng hai trời còn mưa bấc. Đằng xa, làng em mù mù lũy tre. Lúa thì con gái gợn sóng run rẩy theo từng luồng gió bấc.

 

Tôi đứng rất lâu trước ngõ, nghe tiếng hò ru em vẵng ra từ mái nhà tôn :

 

Ru em em thét cho muồi
Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu……..
Kim may hò áo đứt rồi
Tiếc công thầy mẹ đứng ngồi…. chọn kim

Ạ ơ ờ….

Mạ bồng con ra ngồi cầu Ái Tử
Vợ trông chồng lên núi vọng phu
Biết răng chừ bóng xế trăng lu
Con ve kêu… rồi… mùa hạ, biết mấy thu….gặp chàng
”.

 

Tiếng hò ru em xóm quê buồn như tiếng khóc. Tôi dắt xe đi vào sân kêu, Mai ơi. Tiếng hò im bặt. Em chạy ra, trân nhìn tôi. Mắt chớp chớp, hai giọt nước mắt lăn chậm trên gò má ửng chút hồng. Em gầy đi quá. Tôi hỏi, “Mạ đi mô’. “Dạ đi chợ”. “Đi chợ Quán chợ Cầu hả…Mai hò hay lắm”. Em thành thật : “Về đây mỗi lần ru em lại nhớ anh. Hồi ở trên tỉnh, em không dám hò vì sợ “quê” với anh”. “Anh cũng quê mà. Mai hò tiếp cho anh nghe đi”. Em ngửng lên, cười nhẹ “Thì anh hò đi, Mai nghe”.  Tôi hò một bài, em cười, bảo “Anh hò hay lắm, nhưng có chỗ sai lời”.  Em lại cầm tao nôi, mái tóc nghiêng xuống trên chiếc nôi tre, con bé đang thiu ngủ giật mình khóc. Em lại dỗ dành, giọng hiền như mẹ, rồi cất giọng, tiếng à ời dài ra, càng về sau càng mềm đi, nhỏ đi như chỉ còn hơi thở.  Ạ ơ hờ….“Em thương anh, hái dâu quên giỏ, bứt cỏ quên liềm / Xuống sông gánh nước, đôộc chìm… gióng trôi.... ”. Em lại khóc nức lên, hai tay úp mặt cúi đầu, tóc rủ xuống rung theo từng nhịp nấc. Tôi để tay lên vai em, an ủi : “Đừng khóc, buồn lắm. Anh có mang về cuốn truyện Kiều tặng em”. Em nói trong tiếng nấc : “ Kiều, Kim Trọng chi nữa anh ơi. Đêm nằm ngủ em cứ mơ đang đi học, lại thấy anh thất thểu theo sau. Bữa nay anh đừng về nữa, không an toàn mô. Thôi, anh lên đi. Có dịp em ghé thăm anh, và bạn bè”.

 

Tôi nắm tay em, bàn tay lạnh run run. Em kéo tay lại, nhắc : “Anh lên liền đi, buổi chiều ở đây thỉnh thoảng hai bên rình bắn nhau đó”. Em tiễn tôi ra cổng, đứng nhìn theo. Tôi đạp xe như điên trong mưa bấc. Ngoái lui thấy bàn tay em vẫy vẫy, rồi hình ảnh em nhèo đi trong mưa, lũy tre đen thẫm lại.

 

Anh rể tôi biết chuyện tôi trốn về thăm em, kêu tôi lại nghiêm mặt bảo; “Cậu dám về làng P à, cậu có biết ở đó nguy hiểm không. Nếu cậu tái phạm thêm lần nữa tôi sẽ mách Ba”. Tôi lý nhí nhận tội và hứa không về quê em nữa.

 

*

 

Một năm, năm rưỡi… Tôi vẫn đi học một mình. Nhìn tà áo nào cũng có hình dáng em. Chiều nào tôi cũng treo võng dưới cây ổi, bên giếng nước đọc sách, nhìn ra cánh đồng hướng nhà em. Tiếng súng, khói bom làm tôi thót tim. Tiếng gàu múc nước ai đó cũng rốn rảng như vũ khí chiến tranh. Cũng có những buổi chiều yên ắng, mây lang thang bay từ đông về tây, trên cao vời, mà gió Lào thì thổi ngược lại. Đọc thơ Hàn Mặc Tử, hơn bao giờ hết tôi thấm đẩm hồn thơ :

Gió theo lối gió, mây đường mây….”

Và ngọn gió nồm mát rượt hiếm hoi, như mang tiếng hò em về, ngọt ngào mà cay đắng :

Kim may hò áo đứt rồi
Tiếc công thầy mẹ đứng ngồi chọn kim…”

*

 

Mùa hè năm 1972, súng đạn mù trời. Bà con Quảng Trị dắt díu nhau chạy loạn, tứ tán người một phương.

 

Vào trại tạm cư Đà Nẵng tôi đi tìm khắp, từ Hòa Khánh về Non Nước, chẳng biết gia đình em ở phương mô. Một hôm đang lang thang trên bãi biển Hòa Long, nghe tiếng gọi, “anh M”. Quay lại  thấy mấy cô nữ sinh Nguyễn Hoàng mặc đồng phục áp dài trắng đang đi dạo trên bờ biển. Một cô la lên : “Anh M phải không, Lĩnh đây nì”. Lĩnh chạy đến trước mặt tôi, cặp vở ôm nghiêng trước ngực, cúi đầu nói lí nhí, “Mạ và chị Mai chết rồi anh nờ. Em ở với dì có xe nhà binh nên đi trước, không chờ Mạ được. Nghe người ta kể, thấy Mạ, Chị Mai và hai em chết ở cầu Dài….”

 

Trời đất như quay vòng, tôi quỵ xuống cát. Lĩnh ngồi xuống bên, gục đầu lên gối. Hai anh em im lặng, tấm tức  khóc. Tháng mười, trời vần vũ cơn giông, sấm chớp và biển động. Ầm ào gió rít. Mưa ập xuống. Chúng tôi vẫn ngồi thế, trong mưa. Những hạt mưa bắn vào da đau rát, nhòe những vệt cát như những loạt đạn bắn xối xả. Rồi từng dòng, từng dòng nhỏ ngoằn ngoèo chảy thành dòng lớn hơn,  từ từ trôi xuống biển.

 

Mưa ngớt, hai anh em ướt sủng đi dọc bờ biển. Mai tôi đi lính rồi, chưa biết bao giờ về lại Quảng Trị. Lĩnh đi bên thỏ thẻ, “anh M này, ra trường nhớ về cùng Lĩnh đi tim xác Mạ, chị Mai và các em nghe anh… Anh nì, đêm nào Lĩnh cũng mơ thấy đi gánh nước cùng chị Mai. Có khi em rình, thấy anh chị cầm tay nhau, về méc Mạ. Mạ nói, kệ tụi hắn, lớn chút nữa con sẽ hiểu. Giờ em hiểu rồi thì không còn chị để xin lỗi. Mai anh đi, Lĩnh không có gì tặng anh làm kỷ niệm, Lĩnh hát nghe”.

 

Sóng ầm ào, mưa lâm thâm, giọng hát trầm, buồn thảm như lời nguyền, một lời hẹn xa vời không định trước : “Ngày mai anh đi, biển nhớ tên anh gọi về….” Và Mai nữa, anh sẽ về tìm Mai Lĩnh, tìm hồn sông núi, quê hương.

 

Nguyễn Đặng Mừng 

“VÔ VỌNG VỀ DÂN TỘC VIỆT"

 

 

Đạo diễn Trần Văn Thuỷ: “VÔ VỌNG VỀ DÂN TỘC VIỆT"

 

Khoa Phan

May 14 at 11:15 PM ·

Đạo diễn Trần Văn Thuỷ: “VÔ VỌNG VỀ DÂN TỘC VIỆT"

PV: Anh đi khắp nơi như vậy, chứng kiến cuộc sống của người Đức, Pháp, Bỉ hoặc Anh, Ý…, điều gì làm anh xao động nhất?

TVT: Cái cảm giác đè nặng bên trong tôi là vô vọng về dân tộc Việt. Tôi nói điều này thì cũng không đúng lắm, có thể là thất lễ và mất lòng nhiều người, nhưng nó là sự thật.

Tôi xin nói, thật lòng như thế này: Khi còn ở trong nước, tôi cứ nghĩ các khuyết tật mà xã hội Việt Nam có, thí dụ quan liêu, cửa quyền, bắt người khác giống mình, áp đặt ý kiến, là do cơ chế của một thứ “chủ nghĩa Xã Hội”.

Sau này ra ngoài, đi nhiều, tiếp xúc nhiều, nhất là những báo chí của phe chống cộng đủ thứ, tôi thấy không ít chuyện kinh hoàng. Ai mà không giống mình thì dằn mặt, đòi đánh hoặc bắn.

Thế tôi mới ngỡ rằng cái bệnh hiếp đáp nhau, dẫm đạp lên nhau, bắt người khác phải phục tùng mình, phải chăng là chứng bệnh của dân tộc Việt Nam.

Nếu như đó là bệnh của một chế độ chính trị thì có thể sửa được. Khi nó không còn hiện diện hoặc thay đổi thì những điều xấu ấy mất đi. Nhưng nếu đó là những khuyết tật của dân tộc thì thật là điều đau đớn vô cùng.

Nếu chỉ tính từ thế kỷ XV với sự xuất hiện của nhân vật Nguyễn Trãi, đến nay có thể nói qua gần năm thế kỷ, có nhiều chuyện gần như ta phải làm lại từ đầu.

Đè nặng lên tôi nhất vẫn là cái cảm giác dân tộc mình khó mà khá lên được, khó lòng đuổi kịp các nước, dù là những nước trung bình trên thế giới. Đó là sự thật, ai càng yêu nước càng buồn nhiều.

PV: Chúng ta có thể đi xa hơn một chút được không? Hiện tình là vậy thì lỗi lầm bắt đầu từ đâu?

TVT: Câu hỏi của anh làm tôi nhớ lại một lần đối thoại ngắn ngủi với một nhà báo cộng sản Pháp. Trong một buổi chiêu đãi báo chí tại Hà Nội cuối năm 1987, nhà báo nọ nâng ly chúc mừng hai bộ phim của tôi (“Hà Nội Trong Mắt Ai” và “Chuyện Tử Tế”) được công chiếu.

Rồi ông nhún vai bảo rằng: “Nhưng công bằng mà nói, các ông đổ lỗi cho chính phủ, cho nhà nước của các ông nhiều quá”.

Tôi hỏi: “Ông là người ngoại quốc, có thể ông có cái nhìn tinh tế hơn”?

Ông ta lại nhún vai: “Cũng chẳng có gì đáng gọi là tinh tế cả. Phương ngôn Pháp của chúng tôi có câu: “Nhân dân nào, chính phủ nấy”. Các ông rất xứng đáng với chính phủ của các ông!”

PV: Thế nhưng tại sao anh lại nhắc đến Nguyễn Trường Tộ trong hai tập phim? Anh chờ đợi gì ở hình ảnh đó?

TVT: Như mọi người đều biết, dưới triều Tự Đức, Nguyễn Trường Tộ đã điều trần như thế nào mà cuối cùng cũng bị bỏ qua. Đừng quên rằng lúc ấy sự chênh lệch giữa hai nước Việt Nam và Pháp về nhiều phương diện không lớn như bây giờ.

Khoảng cách giữa văn minh và lạc hậu cũng không quá xa như bây giờ. Lúc ấy chúng ta không bị tụt lùi lại như hiện nay đang đứng hàng cuối cùng trong tính số của Liên Hợp Quốc.

Tôi lấy “sự kiện Nguyễn Trường Tộ” làm mốc thời gian vì tôi muốn so sánh thật sự trình độ của Việt nam, tương quan của Việt Nam với thế giới lúc Nguyễn Trường Tộ làm điều trần với hôm nay, nếu quan niệm rằng một công trình khoa học, một bài báo, một vở kịch, một cuốn phim,… đều là những bản điều trần kiểu mới. Qua đó mới thấy mình tụt quá xa!

Vừa rồi đi dạo ngang qua nhà thờ chính ở Frankfurt này, nghe nói nó đã được xây từ 500 năm rồi. Ở xứ mình chẳng có gì anh ạ. Cứ triều đại này lên thì đạp nát hết cái cũ, cuối cùng đất nước bị tàn phá tan tành hết, không còn gì.

PV: Lúc thực hiện phim, anh đã gặp bao nhân tài Việt Nam. Giả sử nhân tài Việt Nam được trọng dụng, đất nước sẽ khá lên chứ?

TVT: Tất nhiên là khá chứ! Tuy nhiên từng người Việt Nam một thì rất khá không kém ai, nhưng nếu người Việt gộp lại thì có khi chẳng làm được gì cả.

Còn làm sao để đất nước khá lên, phải có một thể chế xã hội, kinh tế, chính trị hỗ trợ cho việc phát huy tài trí.

Nếu bây giờ chúng ta có một chính phủ tiến bộ thật sự, tôi nghĩ rằng điều đầu tiên cần làm ngay là phải gấp rút xây dựng một bộ luật, đưa vào luật của những nước tiến bộ, dựa trên nghiên cứu truyền thống, phong tục đạo đức của dân tộc.

Tập trung mọi sức lực làm chuyện đó xong rồi tập trung ngay vào việc giáo dục luật pháp cho dân chúng, từ già đến trẻ nhỏ. Làm cật lực trong 5 năm, y như việc xóa nạn mù chữ trong thời kháng chiến chống Pháp.

Tôi nghĩ đó là còn đường ngắn nhất để xã hội Việt Nam trở thành một xã hội tiến bộ, tích cực, phát huy được mọi tài năng.

Nếu làm được điều ấy thì hóa chăng sau này không còn phe phái nào, lực lượng nào có thể dắt mũi dân tộc này đi vào con đường sai lầm.

Nhưng tôi nghĩ đó chỉ là ảo tưởng, một điều ước xa vời. Những người có quyền, chuyện đầu tiên họ nghĩ là củng cố quyền lực của họ, quy luật của trò chơi mà anh.

Nếu một bộ máy nhà nước chỉ nghĩ đến mục đích duy nhất là làm sao cho người dân sống sướng, sống khá lên, con người thương yêu nhau hơn, hiền hòa, hướng (thiện hay thương?) thì chắc tình hình bây giờ đã khác.

Tôi nói điều này với nỗi đau của riêng tôi. Trong những năm chiến tranh 66-67-68, trên đường vào chiến trường miền Nam, đi qua vùng tuyến lửa Vĩnh Linh, tôi thấy sự hy sinh to lớn khủng khiếp của con người.

Anh biết không, ban đêm bất chấp mưa bom, pháo sáng sáng rực, xe bị lầy, dân ở đây đã gỡ cửa nhà, bàn ghế đem ra lót cho xe vượt lầy. Ngồi trên xe mà thấy nhói trong tim.

Lẽ ra sau khi chiến tranh kết thúc, dân vùng này chắc chắn phải được miễn thuế trong nhiều năm hoặc một chính sách đãi ngộ hợp lí nào đó, hay là một sự chia sẽ tối thiểu.

Thế nhưng tôi vô cùng thất vọng khi những năm sau trở lại vùng này, dân ở đây lại sống lầm than hơn xưa và vẫn tiếp tục là nạn nhân của chế độ quan liêu cửa quyền, vẫn nghèo xác xơ.

PV: Trong tất cả những khái niệm, từ ngữ thường được dùng đến bây giờ, như “tự do”, “độc lập”, “hạnh phuc”, “dân chủ”, “tình thương”, “cách mạng”, “vĩ đại”, “vinh quang”, “nỗi đau”, “căm thù”, “hòa giải”, “đoàn kết”…, từ ngữ nào đối với anh có ý nghĩa nhất?

TVT: Tôi có thể nói ngay với anh rằng một cái từ mà chúng ta phải phụng sự – mà đó là một từ cũ rích – từ “con người”.

Chúng ta hãy trở về với những từ thật đơn giản, nguyên thủy hơn, như từ “con người”. Trong muôn loài thì có loài người. Trong rất nhiều loại con thì có “con người”. Trong vũ trụ thì con người chỉ là một thực thể nào đó.

Nếu Lưu Quang Vũ còn sống, chắc anh còn viết được nhiều hơn về những điều này. Từ những tác phẩm cách đây 10-15 năm, Vũ đã từng viết: “Đừng có đánh mất mình tức là đừng có đánh mất con người”.

Nhìn kỹ lại cách mạng của Pháp 1789, đến nay đã 200 năm, lịch sử cũng không làm điều gì khác hơn là vật lộn với con người. Hãy tránh dùng mỹ từ anh ạ.

PV: Thế còn anh nghĩ gì về 'đổi mới'?

TVT: Câu hỏi này làm tôi nhớ lại câu hỏi của nhà báo Úc đã hỏi tôi cách đây hơn 2 năm sau liên hoan phim ở Đã Nẵng.

Anh biết không, lúc đó tôi trả lời là không riêng gì tôi mà phần lớn bạn bè của tôi đều nghĩ rằng: “Đổi mới tức là trở lại một số những cái cũ đã bị vùi dập hoặc bỏ quên”.

Đơn giản thôi, ông thấy cái gì đổi mới tại Việt Nam?

Tư nhân thì được kinh doanh, bác sỹ thì được mở phòng mạch, thầy giáo đôi nơi thì được mở trường tư, in lại sách cũ, trình bày lại một số nhạc phẩm thời xưa, mở rộng một số chính sách về đối ngoại, cho một số được đi du học hoặc du lịch tự túc… thì tôi thưa với ông rằng trước 75 tại miền Nam hay ở Hà Nội trước 54, tất cả những cái đó đều không phải là chuyện gì cả!

Như thế thì rõ ràng, đổi mới là trở lại những cái cũ đã bị bỏ quên chứ còn gì nữa. Nghe xong câu trả lời cà chớn đó của tôi, ông ta mỉm cười.

PV: Tôi nhận thấy trong tất cả những phim của anh mà tôi được xem từ trước đến giờ, anh rất thích dùng một chữ mà bản thân tôi cũng rất thích, đó là chữ “Tâm”. Trong “Hà Nội Trong Mắt Ai”, thì có ngòi bút tả Thiên Thanh, viết lên trời xanh một chữ tâm, trong “Thầy Bói Xem Voi” thì có “nếu tâm còn sáng”… Anh có thể khai triển thêm được không?

TVT: Chuyện này coi vậy mà nó lai rai lắm anh ạ! Sau nhiều năm chiến tranh, xã hội Việt Nam chúng ta có nhiều đổ vỡ về vật chất lẫn tinh thần.

Đổ vỡ vật chất – nói cho cùng – nếu chúng ta có chính sách đúng đắn tận dụng nhân tài, tranh thủ được đầu tư của trong nước lẫn ngoài nước thì cũng có thể dần dần khôi phục được.

Nói đến chữ “Tâm” tức là nói đến đạo đức xã hội, nói đến lòng người. Nhưng sụp đổ tinh thần sau bao năm chiến tranh, sau bao nhiêu sai lầm, tôi e rằng không bao giờ có thể xây dựng lại được.

Đối với người Việt Nam, cái mất mát lớn nhất bây giờ là lòng tin. Giả sử bây giờ nếu có ngoại xâm lần nữa, tôi ngờ ít mấy ai sẵn sàng hy sinh tất cả, sẵn sàng đem hết tất cả những gì mình có ra làm chướng ngại vật chống chiến xa như hồi kháng chiến chống Pháp năm 1946.

Người ta đã qua nhiều lần hy vọng rồi lại thất vọng, nên nếu ngay như bây giờ có một minh quân xuất hiện thì cũng chả có mấy ai tin.

Cái khó nhất hiện nay trong xã hội Việt Nam là làm sao khắc phục được lòng người. Đó là chữ “Tâm”.

PV: Có một ý nữa chung quanh chữ “Tâm”, anh còn nhớ người nhạc sĩ mù trong “Hà Nội Trong Mắt Ai”? Mắt có thể mù nhưng lòng còn trong sạch, tức là tâm còn sáng, thì vẫn còn có thể thấy được những điều mà người khác chưa chắc đã thấy.

TVT: Kỳ rồi, trong một cuộc phỏng vấn ở Anh, người ta đã hỏi tôi “điều gì làm tình hình Việt Nam khó đến như vậy”?!

Vì tôi không phải là người nghiên cứu kinh tế, chính trị, nên tôi chỉ có thể trả lời họ bằng những cảm nhận của một người làm điện ảnh có cơ hội cọ xát với nhiều giới.

Thật ra mình có thể kể cho họ về đủ thứ nguyên nhân – kinh tế, chính trị, lịch sử, dân trị… – nhưng với tôi, nguyên nhân lớn nhất hiện nay làm cho xã hội Việt Nam trì trệ là bệnh “SỢ” vẫn đang bao trùm.

Người ta đánh mất chính mình, người ta sống không thật. Nếu những người lãnh đạo mà có những cố vấn trung thực thì đất nước mới khá lên được.

Anh còn nhớ trong “Hà Nội Trong Mắt Ai”, trong đoạn về Quang Trung, tôi có nói rằng: “Quốc gia chỉ có thể trường tồn và hưng thịnh khi kẻ thường dân dám nói với bề trên điều ngay thẳng và người có quyền uy phải biết nghe kẻ dưới mình điều phải trái.”

Thật ra tôi chưa dám bàn tới chữ “Tâm” vì chữ “Tâm” còn cao hơn thế! Một đạo đức trung bình của xã hội như lòng trung thực mà còn chưa có thì miễn bàn về chữ Tâm”.

Cóp từ FB Tuệ Lãng