Đạo diễn
Trần Văn Thuỷ: “VÔ VỌNG VỀ DÂN TỘC VIỆT"
Đạo diễn Trần
Văn Thuỷ: “VÔ VỌNG VỀ DÂN TỘC VIỆT"
PV: Anh đi
khắp nơi như vậy, chứng kiến cuộc sống của người Đức, Pháp, Bỉ hoặc Anh, Ý…, điều
gì làm anh xao động nhất?
TVT: Cái cảm
giác đè nặng bên trong tôi là vô vọng về dân tộc Việt. Tôi nói điều này thì
cũng không đúng lắm, có thể là thất lễ và mất lòng nhiều người, nhưng nó là sự
thật.
Tôi xin nói,
thật lòng như thế này: Khi còn ở trong nước, tôi cứ nghĩ các khuyết tật mà xã hội
Việt Nam có, thí dụ quan liêu, cửa quyền, bắt người khác giống mình, áp đặt ý
kiến, là do cơ chế của một thứ “chủ nghĩa Xã Hội”.
Sau này ra
ngoài, đi nhiều, tiếp xúc nhiều, nhất là những báo chí của phe chống cộng đủ thứ,
tôi thấy không ít chuyện kinh hoàng. Ai mà không giống mình thì dằn mặt, đòi
đánh hoặc bắn.
Thế tôi mới
ngỡ rằng cái bệnh hiếp đáp nhau, dẫm đạp lên nhau, bắt người khác phải phục
tùng mình, phải chăng là chứng bệnh của dân tộc Việt Nam.
Nếu như đó
là bệnh của một chế độ chính trị thì có thể sửa được. Khi nó không còn hiện diện
hoặc thay đổi thì những điều xấu ấy mất đi. Nhưng nếu đó là những khuyết tật của
dân tộc thì thật là điều đau đớn vô cùng.
Nếu chỉ tính
từ thế kỷ XV với sự xuất hiện của nhân vật Nguyễn Trãi, đến nay có thể nói qua
gần năm thế kỷ, có nhiều chuyện gần như ta phải làm lại từ đầu.
Đè nặng lên
tôi nhất vẫn là cái cảm giác dân tộc mình khó mà khá lên được, khó lòng đuổi kịp
các nước, dù là những nước trung bình trên thế giới. Đó là sự thật, ai càng yêu
nước càng buồn nhiều.
PV: Chúng ta
có thể đi xa hơn một chút được không? Hiện tình là vậy thì lỗi lầm bắt đầu từ
đâu?
TVT: Câu hỏi
của anh làm tôi nhớ lại một lần đối thoại ngắn ngủi với một nhà báo cộng sản
Pháp. Trong một buổi chiêu đãi báo chí tại Hà Nội cuối năm 1987, nhà báo nọ
nâng ly chúc mừng hai bộ phim của tôi (“Hà Nội Trong Mắt Ai” và “Chuyện Tử Tế”)
được công chiếu.
Rồi ông nhún
vai bảo rằng: “Nhưng công bằng mà nói, các ông đổ lỗi cho chính phủ, cho nhà nước
của các ông nhiều quá”.
Tôi hỏi:
“Ông là người ngoại quốc, có thể ông có cái nhìn tinh tế hơn”?
Ông ta lại
nhún vai: “Cũng chẳng có gì đáng gọi là tinh tế cả. Phương ngôn Pháp của chúng
tôi có câu: “Nhân dân nào, chính phủ nấy”. Các ông rất xứng đáng với chính phủ
của các ông!”
PV: Thế
nhưng tại sao anh lại nhắc đến Nguyễn Trường Tộ trong hai tập phim? Anh chờ đợi
gì ở hình ảnh đó?
TVT: Như mọi
người đều biết, dưới triều Tự Đức, Nguyễn Trường Tộ đã điều trần như thế nào mà
cuối cùng cũng bị bỏ qua. Đừng quên rằng lúc ấy sự chênh lệch giữa hai nước Việt
Nam và Pháp về nhiều phương diện không lớn như bây giờ.
Khoảng cách
giữa văn minh và lạc hậu cũng không quá xa như bây giờ. Lúc ấy chúng ta không bị
tụt lùi lại như hiện nay đang đứng hàng cuối cùng trong tính số của Liên Hợp Quốc.
Tôi lấy “sự
kiện Nguyễn Trường Tộ” làm mốc thời gian vì tôi muốn so sánh thật sự trình độ của
Việt nam, tương quan của Việt Nam với thế giới lúc Nguyễn Trường Tộ làm điều trần
với hôm nay, nếu quan niệm rằng một công trình khoa học, một bài báo, một vở kịch,
một cuốn phim,… đều là những bản điều trần kiểu mới. Qua đó mới thấy mình tụt
quá xa!
Vừa rồi đi dạo
ngang qua nhà thờ chính ở Frankfurt này, nghe nói nó đã được xây từ 500 năm rồi.
Ở xứ mình chẳng có gì anh ạ. Cứ triều đại này lên thì đạp nát hết cái cũ, cuối
cùng đất nước bị tàn phá tan tành hết, không còn gì.
PV: Lúc thực
hiện phim, anh đã gặp bao nhân tài Việt Nam. Giả sử nhân tài Việt Nam được trọng
dụng, đất nước sẽ khá lên chứ?
TVT: Tất
nhiên là khá chứ! Tuy nhiên từng người Việt Nam một thì rất khá không kém ai,
nhưng nếu người Việt gộp lại thì có khi chẳng làm được gì cả.
Còn làm sao
để đất nước khá lên, phải có một thể chế xã hội, kinh tế, chính trị hỗ trợ cho
việc phát huy tài trí.
Nếu bây giờ
chúng ta có một chính phủ tiến bộ thật sự, tôi nghĩ rằng điều đầu tiên cần làm
ngay là phải gấp rút xây dựng một bộ luật, đưa vào luật của những nước tiến bộ,
dựa trên nghiên cứu truyền thống, phong tục đạo đức của dân tộc.
Tập trung mọi
sức lực làm chuyện đó xong rồi tập trung ngay vào việc giáo dục luật pháp cho
dân chúng, từ già đến trẻ nhỏ. Làm cật lực trong 5 năm, y như việc xóa nạn mù
chữ trong thời kháng chiến chống Pháp.
Tôi nghĩ đó
là còn đường ngắn nhất để xã hội Việt Nam trở thành một xã hội tiến bộ, tích cực,
phát huy được mọi tài năng.
Nếu làm được
điều ấy thì hóa chăng sau này không còn phe phái nào, lực lượng nào có thể dắt
mũi dân tộc này đi vào con đường sai lầm.
Nhưng tôi
nghĩ đó chỉ là ảo tưởng, một điều ước xa vời. Những người có quyền, chuyện đầu
tiên họ nghĩ là củng cố quyền lực của họ, quy luật của trò chơi mà anh.
Nếu một bộ
máy nhà nước chỉ nghĩ đến mục đích duy nhất là làm sao cho người dân sống sướng,
sống khá lên, con người thương yêu nhau hơn, hiền hòa, hướng (thiện hay
thương?) thì chắc tình hình bây giờ đã khác.
Tôi nói điều
này với nỗi đau của riêng tôi. Trong những năm chiến tranh 66-67-68, trên đường
vào chiến trường miền Nam, đi qua vùng tuyến lửa Vĩnh Linh, tôi thấy sự hy sinh
to lớn khủng khiếp của con người.
Anh biết
không, ban đêm bất chấp mưa bom, pháo sáng sáng rực, xe bị lầy, dân ở đây đã gỡ
cửa nhà, bàn ghế đem ra lót cho xe vượt lầy. Ngồi trên xe mà thấy nhói trong
tim.
Lẽ ra sau
khi chiến tranh kết thúc, dân vùng này chắc chắn phải được miễn thuế trong nhiều
năm hoặc một chính sách đãi ngộ hợp lí nào đó, hay là một sự chia sẽ tối thiểu.
Thế nhưng
tôi vô cùng thất vọng khi những năm sau trở lại vùng này, dân ở đây lại sống lầm
than hơn xưa và vẫn tiếp tục là nạn nhân của chế độ quan liêu cửa quyền, vẫn
nghèo xác xơ.
PV: Trong tất
cả những khái niệm, từ ngữ thường được dùng đến bây giờ, như “tự do”, “độc lập”,
“hạnh phuc”, “dân chủ”, “tình thương”, “cách mạng”, “vĩ đại”, “vinh quang”, “nỗi
đau”, “căm thù”, “hòa giải”, “đoàn kết”…, từ ngữ nào đối với anh có ý nghĩa nhất?
TVT: Tôi có
thể nói ngay với anh rằng một cái từ mà chúng ta phải phụng sự – mà đó là một từ
cũ rích – từ “con người”.
Chúng ta hãy
trở về với những từ thật đơn giản, nguyên thủy hơn, như từ “con người”. Trong
muôn loài thì có loài người. Trong rất nhiều loại con thì có “con người”. Trong
vũ trụ thì con người chỉ là một thực thể nào đó.
Nếu Lưu
Quang Vũ còn sống, chắc anh còn viết được nhiều hơn về những điều này. Từ những
tác phẩm cách đây 10-15 năm, Vũ đã từng viết: “Đừng có đánh mất mình tức là đừng
có đánh mất con người”.
Nhìn kỹ lại
cách mạng của Pháp 1789, đến nay đã 200 năm, lịch sử cũng không làm điều gì
khác hơn là vật lộn với con người. Hãy tránh dùng mỹ từ anh ạ.
PV: Thế còn
anh nghĩ gì về 'đổi mới'?
TVT: Câu hỏi
này làm tôi nhớ lại câu hỏi của nhà báo Úc đã hỏi tôi cách đây hơn 2 năm sau
liên hoan phim ở Đã Nẵng.
Anh biết
không, lúc đó tôi trả lời là không riêng gì tôi mà phần lớn bạn bè của tôi đều
nghĩ rằng: “Đổi mới tức là trở lại một số những cái cũ đã bị vùi dập hoặc bỏ
quên”.
Đơn giản
thôi, ông thấy cái gì đổi mới tại Việt Nam?
Tư nhân thì
được kinh doanh, bác sỹ thì được mở phòng mạch, thầy giáo đôi nơi thì được mở
trường tư, in lại sách cũ, trình bày lại một số nhạc phẩm thời xưa, mở rộng một
số chính sách về đối ngoại, cho một số được đi du học hoặc du lịch tự túc… thì
tôi thưa với ông rằng trước 75 tại miền Nam hay ở Hà Nội trước 54, tất cả những
cái đó đều không phải là chuyện gì cả!
Như thế thì
rõ ràng, đổi mới là trở lại những cái cũ đã bị bỏ quên chứ còn gì nữa. Nghe
xong câu trả lời cà chớn đó của tôi, ông ta mỉm cười.
PV: Tôi nhận
thấy trong tất cả những phim của anh mà tôi được xem từ trước đến giờ, anh rất
thích dùng một chữ mà bản thân tôi cũng rất thích, đó là chữ “Tâm”. Trong “Hà Nội
Trong Mắt Ai”, thì có ngòi bút tả Thiên Thanh, viết lên trời xanh một chữ tâm,
trong “Thầy Bói Xem Voi” thì có “nếu tâm còn sáng”… Anh có thể khai triển thêm
được không?
TVT: Chuyện
này coi vậy mà nó lai rai lắm anh ạ! Sau nhiều năm chiến tranh, xã hội Việt Nam
chúng ta có nhiều đổ vỡ về vật chất lẫn tinh thần.
Đổ vỡ vật chất
– nói cho cùng – nếu chúng ta có chính sách đúng đắn tận dụng nhân tài, tranh
thủ được đầu tư của trong nước lẫn ngoài nước thì cũng có thể dần dần khôi phục
được.
Nói đến chữ
“Tâm” tức là nói đến đạo đức xã hội, nói đến lòng người. Nhưng sụp đổ tinh thần
sau bao năm chiến tranh, sau bao nhiêu sai lầm, tôi e rằng không bao giờ có thể
xây dựng lại được.
Đối với người
Việt Nam, cái mất mát lớn nhất bây giờ là lòng tin. Giả sử bây giờ nếu có ngoại
xâm lần nữa, tôi ngờ ít mấy ai sẵn sàng hy sinh tất cả, sẵn sàng đem hết tất cả
những gì mình có ra làm chướng ngại vật chống chiến xa như hồi kháng chiến chống
Pháp năm 1946.
Người ta đã
qua nhiều lần hy vọng rồi lại thất vọng, nên nếu ngay như bây giờ có một minh
quân xuất hiện thì cũng chả có mấy ai tin.
Cái khó nhất
hiện nay trong xã hội Việt Nam là làm sao khắc phục được lòng người. Đó là chữ
“Tâm”.
PV: Có một ý
nữa chung quanh chữ “Tâm”, anh còn nhớ người nhạc sĩ mù trong “Hà Nội Trong Mắt
Ai”? Mắt có thể mù nhưng lòng còn trong sạch, tức là tâm còn sáng, thì vẫn còn
có thể thấy được những điều mà người khác chưa chắc đã thấy.
TVT: Kỳ rồi,
trong một cuộc phỏng vấn ở Anh, người ta đã hỏi tôi “điều gì làm tình hình Việt
Nam khó đến như vậy”?!
Vì tôi không
phải là người nghiên cứu kinh tế, chính trị, nên tôi chỉ có thể trả lời họ bằng
những cảm nhận của một người làm điện ảnh có cơ hội cọ xát với nhiều giới.
Thật ra mình
có thể kể cho họ về đủ thứ nguyên nhân – kinh tế, chính trị, lịch sử, dân trị…
– nhưng với tôi, nguyên nhân lớn nhất hiện nay làm cho xã hội Việt Nam trì trệ
là bệnh “SỢ” vẫn đang bao trùm.
Người ta
đánh mất chính mình, người ta sống không thật. Nếu những người lãnh đạo mà có
những cố vấn trung thực thì đất nước mới khá lên được.
Anh còn nhớ
trong “Hà Nội Trong Mắt Ai”, trong đoạn về Quang Trung, tôi có nói rằng: “Quốc
gia chỉ có thể trường tồn và hưng thịnh khi kẻ thường dân dám nói với bề trên
điều ngay thẳng và người có quyền uy phải biết nghe kẻ dưới mình điều phải
trái.”
Thật ra tôi
chưa dám bàn tới chữ “Tâm” vì chữ “Tâm” còn cao hơn thế! Một đạo đức trung bình
của xã hội như lòng trung thực mà còn chưa có thì miễn bàn về chữ Tâm”.
Cóp từ FB Tuệ
Lãng
No comments:
Post a Comment