Follow
Nhà thơ Hữu
Loan khóc giữa Sài Gòn
* * *
Lời giới thiệu
của NNC:
Nói đến Nguyễn
Hữu Loan, tức nhà thơ Hữu Loan, người ta liên tưởng đến bài thơ “Màu tím hoa
sim” được ông sáng tác vào năm 1949 tại Thanh Hoá với lời đề tặng “Khóc vợ Lê Đỗ
Thị Ninh”. Bà là con gái cụ Lê Đỗ Kỳ, cùng công tác tại Uỷ ban tỉnh Thanh Hoá
sau Cách mạng tháng Tám với Hữu Loan.
Cụ Lê Đỗ Kỳ
có người con trai cả là Lê Đỗ Khôi, hy sinh tại Điện Biên Phủ 5 tiếng đồng hồ
trước khi quân ta cắm cờ trên sở chỉ huy của Pháp. Tiếp đó là Lê Đỗ Nguyên, tức
Trung tướng Hồng Cư. Em ông Cư là Lê Đỗ An, tức Nguyễn Tiên Phong, sau là Bí
thư Trung ương Đoàn TNCS HCM. Em ông Nguyên là Đại tá Lê Đỗ Thái. Hai ông Hồng
Cư và Lê Đỗ Thái hiện sống ở Hà Nội và đều lấy con gái GS. Đặng Thai Mai.
Bài thơ phổ
biến tại Miền Nam không những qua sách báo, mà còn được phổ nhạc, hát rộng rãi
trên đài phát thanh, các buổi trình diễn văn nghệ trên sân khấu, nhất là vào những
năm thập niên 60 của thế kỷ 20. Bài thơ đả được các nhạc sĩ Dzũng Chinh, Phạm
Duy, Anh Bằng, Duy Khánh, Nguyễn Đặng Mừng, Thu Hồ, Hồng Vân... phổ nhạc.
Bản “Màu tím
hoa sim” thời ấy ngắn hơn bản tác giả công bố sau này. Bản cũ chấm hết ở mấy
câu: “Tôi hát trong màu hoa. Áo anh sứt chỉ đường tà. Vợ anh mất sớm, mẹ già
chưa khâu” chứ không có thêm “Tôi ví vọng về đâu. Tôi với vọng về đâu. Áo anh
nát chỉ dù lâu...” ở cuối bài như sau này:
“Khóc vợ Lê
Đỗ Thị Ninh”
Nàng có ba
người anh đi bộ đội
Những em
nàng
Có em chưa
biết nói
Khi tóc nàng
xanh xanh
Tôi người Vệ
quốc quân
xa gia đình
Yêu nàng như
tình yêu em gái
Ngày hợp hôn
nàng không
đòi may áo mới
Tôi mặc đồ
quân nhân
đôi giày
đinh
bết bùn đất
hành quân
Nàng cười
xinh xinh
bên anh chồng
độc đáo
Tôi ở đơn vị
về
Cưới nhau
xong là đi
Từ chiến khu
xa
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời
chiến binh
Mấy người đi
trở lại
Nhỡ khi mình
không về
thì thương
người vợ chờ
bé bỏng chiều
quê...
Nhưng không
chết
người trai
khói lửa
Mà chết
người gái nhỏ
hậu phương
Tôi về
không gặp
nàng
Má tôi ngồi
bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình
hoa ngày cưới
thành bình
hương
tàn lạnh vây
quanh
Tóc nàng
xanh xanh
ngắn chưa đầy
búi
Em ơi giây
phút cuối
không được
nghe nhau nói
không được
trông nhau một lần
Ngày xưa
nàng yêu hoa sim tím
áo nàng màu
tím hoa sim
Ngày xưa
một mình đèn
khuya
bóng nhỏ
Nàng vá cho
chồng tấm áo
ngày xưa...
Một chiều rừng
mưa
Ba người anh
trên chiến trường Đông Bắc
Được tin em
gái mất
trước tin em
lấy chồng
Gió sớm thu
về rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn
lên
Ngỡ ngàng
nhìn ảnh chị
Khi gió sớm
thu về
cỏ vàng chân
mộ chí
Chiều hành
quân
Qua những đồi
hoa sim
Những đồi
hoa sim
những đồi
hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa
sim
tím chiều
hoang biền biệt
Có ai ví như
từ chiều ca dao nào xưa xa
Áo anh sứt
chỉ đường tà
Vợ anh chưa
có mẹ già chưa khâu
Ai hỏi vô
tình hay ác ý với nhau
Chiều hoang
tím có chiều hoang biết
Chiều hoang
tím tím thêm màu da diết
Nhìn áo rách
vai
Tôi hát
trong màu hoa
Áo anh sứt
chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm,
mẹ già chưa khâu...
Màu tím hoa
sim, tím tình trang lệ rớm
Tím tình ơi
lệ ứa
Ráng vàng ma
và sừng rúc điệu quân hành
Vang vọng chập
chờn theo bóng những binh đoàn
Biền biệt
hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím
Tôi ví vọng
về đâu
Tôi với vọng
về đâu
Áo anh nát
chỉ dù lâu...
* * *
Bài viết của
Cung Tích Biền:
Thật hạnh ngộ
khi chúng tôi được gặp nhà thơ Hữu Loan, tác giả bài thơ Màu Tím Hoa Sim, cùng
một số vị trong vụ án Nhân văn – Giai phẩm, những năm từ 1957 về sau, trên đất
Bắc.
Sau tháng Tư
1975, trước khi nhà thơ Hữu Loan có dịp vào Nam, đã có một số thân hữu từ miền
Nam ra Bắc thăm ông. Khó có thể mô tả cảnh nghèo khó của gia đình ông thuở ấy,
lại khó hình dung ra cái tình cảnh cô đơn của một Hữu Loan bị chính quyền cô lập
trong bao nhiêu năm.
Ông vào thăm
Sàigòn khá muộn màng, có thể do điều kiện kinh tế quá khó khăn. Anh em chúng
tôi có dàn xếp một ngày để tiếp ông. Cà phê sáng, dùng cơm trưa, buổi chiều đưa
ông đi dạo chơi đó đây. Thuở ấy chỉ toàn xe đạp, sang trọng tí chút là xe gắn
máy. Ông rất hồi hộp khi ngồi yên sau xe gắn máy. Ông luôn bảo “Đèo nhau xe đạp,
chậm rãi, thì bình an hơn”.
Quán cà phê
vườn khá rộng. Khi anh Duy đưa Hữu Loan tới, quanh bàn chúng tôi đã có Tô Kiều
Ngân, Bùi Giáng, mấy anh em văn nghệ, có cả một lúc có hai cô, Huyền Tr. và
Thúy V. một cô là ca sĩ, cô kia đang là diễn ngâm thơ cho đài phát thanh, trong
các chương trình thi ca.
Hữu Loan,
thoạt nhìn như một pho tượng, sạm một màu đất nung. Khuôn mặt chữ điền, tóc
dài, trán rộng, sống mũi thẳng, cao. Tôi nghiêng người chào ông. Ông nở nụ cười.
Một nụ cười cẩn thận, nói rằng thân thiện là chưa đúng. Một cái bắt tay của
giao tế, dè chừng. Sống ở miền Nam, sau cơn dâu bể, nay gặp anh trở về, gặp chị
ngoài kia vô, chào một nhà văn xứ Bắc vừa chạm mặt, tôi nhận ra tất cả họ đều
có một hành xử khá giống nhau.
Bây giờ ông
đang trước mặt. Với ly cà phê đen, bữa nay tôi có cái để mà Nhớ Lại, có cái để
được Ngắm Nhìn. Hữu Loan, Ông từ đâu tới!
Trò chuyện với
Hữu Loan, mến ông là một người khá hiểu biết về văn chương, học thuật. Dễ là chốn
tri âm, tương phùng. Có thể do ông là người có học hành tử tế, trưởng thành vào
thời kỳ nước nhà còn lưu giữ những nền móng đạo lý, những thứ vốn văn hóa quý
hiếm của giống nòi.
Một ngày gặp
gỡ. Bữa trưa uống một trận bia. Chiều đưa ông thăm chơi đó đây. Buổi tối ghé một
quán vườn, rất đông anh em. Sáng hôm sau ông ghé tôi. Chúng tôi cùng uống cà
phê, ăn sáng. Nhà tôi ngay đường Nguyễn Huệ nên nhà hàng Givral cũng gần. Vào
quán, ông đầy vẻ ngỡ ngàng. Xem thực đơn, ông nói, “Tôi không biết gọi gì, anh
gọi dùm”.
Tôi gọi cho
ông ly cà phê sữa, bánh mì vuông, một đĩa thịt nguội, patê, xúc xích. Lúc này
chúng tôi cũng đang túng thiếu, nhưng tiếp ông, tôi phải “bề thế” tí chút. Chẳng
lẽ mấy mươi năm ông nhai củ mì ngoài Bắc, giờ này tôi mời ông mấy củ khoai lang
trộn bo bo!
Tôi nhường
ông ngồi ghế bên trong, nhìn ra đường, quang cảnh góc đại lộ Lê Lợi và Tự Do.
“Sàigòn nó to rộng thế đấy”. Bên kia là Continental khách sạn thuộc loại cổ nhất
Sàigòn, nhà Hát Tây [tòa nhà Hạ nghị viện thời Cộng Hòa], khách sạn Caravelle.
Ông mãi nhìn cảnh đẹp bên ngoài, lại nhìn đĩa thịt nguội. Chừng không muốn ăn.
Tôi giục ông ăn chút gì kẻo đói bụng.
Ông nói:
“Anh cho tôi nhìn một hồi đã. Bao nhiêu năm tôi mới thấy cái món lạ lùng này”.
Ông ăn một cách khó khăn. Chừng từ lâu không quen với dao nĩa. Tôi bèn gọi một
đĩa tương tự, rồi bốc mà ăn, ý hô hào ông cùng bốc mà ăn.
Nhìn ông,
tôi lại nhớ nước mắt của ông buổi sáng hôm qua. Lúc trò chuyện, tôi nói nhỏ với
Thúy V. “Em nên ngâm bài Màu Tím Hoa Sim của chính Hữu Loan để tặng ông”.
Trong quán
có cây đàn ghi-ta. Vũ D. đệm đàn. Tô Kiều Ngân rút cây sáo trúc “nhà nghề”, dìu
giọng người ngâm thơ. Giọng Thúy V. mượt mà, khá trữ tình. Nghe ngâm thơ của
mình, từ mấy mươi năm bị chế độ cấm phổ biến trên đất Bắc, Hữu Loan ngậm ngùi.
Bất ngờ ông bật tiếng khóc.
Khuôn mặt
như một phiến đá chỗ lòng suối cạn. Khó lòng thấm nước. Nhưng những hạt trong vắt
cứ trôi xuống má. Ông có vẻ sờ soạng. Một bàn tay thò vào túi. Không có gì. Hai
bàn tay thô tháp chỉ run run, ông kéo cái chéo áo ka-ki màu chàm, vải nhám, chừng
cũng bẩn do mặc lâu ngày, đưa lên lau nước mắt…
Nhà thơ Hữu
Loan qua đời vào trung tuần tháng 3 năm 2010 tại quê nhà, hưởng thọ 94 tuổi.
Phùng Quán ra đi ngày 22 tháng 1 năm 1995. Trần Dần mất ngày 17 tháng 1 năm
1997. Cùng những ngày của mùa xuân. Phan Khôi, Văn Cao, Nguyễn Mạnh Tường, Trần
Đức Thảo, Nguyễn Hữu Đang…và nhiều nữa… những thành phần trụ cột của Phong trào
“Đi Tìm tự do tư tưởng, đòi hỏi nhân quyền”, là đỉnh cao của văn hóa, cội nguồn,
nay đã ra người thiên cổ.
Thiên cổ, là
Bên Kia của hiện thực bên này ư? Bên kia, ai có nhớ về? Hoài niệm, bảo tôi nghĩ
và viết những dòng này.
(Hình ảnh do
NNC sưu tầm trên mạng)
No comments:
Post a Comment