Trần Nghi
Hoàng
đọc "Nếu
Đi Hết Biển…" của Trần Văn Thủy.
NHỮNG NHỊP CẦU
TRE - KHÔNG THỂ NỐI ĐƯỢC HAI BỜ CỦA MỘT ĐẠI DƯƠNG!
LỜI DẪN: Cuối
tháng hai năm 2004, một ông bạn từ Virginia đi California lo đám tang cho ông
anh cả trở về, mang theo một lô những cuốn sách mua từ thủ đô của người Việt tị
nạn. Trong đó, có "Nếu Đi Hết Biển…" của Trần Văn Thủy. Tôi đến thăm,
lướt qua lô sách và ngỏ ý mượn "Nếu Đi Hết Biển…". Ông bạn cùng là một
người cầm bút, ông cho mượn, nhưng nói cần tôi trả sớm để ông đọc và viết về cuốn
sách. Tôi mượn hai ngày, đọc một phần những bài đầu, rồi mang trả ông bạn cuốn
sách. Tôi nói với ông bạn: "Tôi cũng sẽ viết về ‘Nếu Đi Hết Biển…’, nên sẽ
tìm một cuốn… ". Tôi đề nghị với ông bạn là mỗi người cứ viết bài của
mình, không đọc bài của nhau, không trao đổi ý kiến gì hết… Để bài viết có được
tính độc lập của nó. Gần hai tháng trời tôi mới có được "Nếu Đi Hết Biển…"
do một người bạn trẻ từ California mua gửi qua. Trong gần hai tháng đó, ông bạn
tôi vì bận bịu, và cuốn "Nếu Đi Hết Biển…" của ông cũng "lưu lạc"
qua nhiều tay bằng hữu đã mượn, nên ông vẫn chưa viết gì hết! Nhưng trên các
báo, các trang web, tôi thoáng thấy có không ít những bài viết của nhiều người
về "Nếu Đi Hết Biển…", trong đó có Công Tử Hà Đông Hoàng Hải Thủy đã
viết dường như đến bài thứ bảy rồi thì phải. Tôi vẫn giữ ý định không đọc bất cứ
bài của ai khác về đề tài này cho đến khi tôi viết xong… Hôm qua, ông bạn nói
trên giữa một bữa cà phê, biết tôi sẽ bắt đầu viết về "Nếu Đi Hết Biển…",
lại đưa ra ý kiến, là nếu để tránh những ý trùng với những cây bút khác, ông đề
nghị tôi nên đọc để biết những nhận định họ… thì hợp lý hơn. Tôi cám ơn ông bạn,
nhưng vẫn giữ ý định "không đọc cho tới khi viết xong". Như vậy, nếu
tình cờ trong bài viết của tôi, có những điều trùng hợp với bài viết của các
người viết khác, thì đó cũng là điều hay… Từ những nhận thức của những người Việt
lưu vong, ít ra cũng còn có những mẫu số chung!
Tôi sẽ viết
làm nhiều bài, chưa biết bao nhiêu bài. Ở bài một này, tôi chỉ viết về 56 trang
đầu của "Nếu Đi hết Biển…", mà tôi đặt cho tiểu đề:
BÀI MỘT:
NHỮNG VÒNG
RÀO CHUNG QUANH BIỂN
"Nếu Đi
hết Biển…" dày 193 trang. Ở trang bìa có đề hai chử Thời Văn. Nhưng trang
3 lại có hàng ghi "Chương Trình Nghiên Cứu Của University of
Massachusettes Boston". Người viết lời giới thiệu là Kevin Bowen, Giám đốc
Trung Tâm William Joiner Nghiên Cứu Về Chiến Tranh và Hậu Quả Chiến Tranh, Đại
Học Massachusettes Boston. Kevin Bowen cũng là Nghiên Cứu Trưởng Chương Trình
Rockefeller Nghiên Cứu Về Tiến Trình "Tái" Xây Dựng Diện Mạo và Quê
hương Của Người Việt Ở Nước Ngoài 2000 - 2003.
Như vậy,
"Nếu Đi Hết Biển…" hẳn nhiên do William Joiner Center tài trợ, chẳng
những cho cuốn sách được in ra, mà cho người thực hiện cuốn sách tất cả những
phương tiện từ Việt Nam bay qua Mỹ, và những chuyến bay lòng vòng trong nước Mỹ
để hoàn thành những cuộc phỏng vấn.
Chủ đề chính
của "Nếu Đi Hết Biển…" là những cuộc phỏng vấn do Trần Văn Thủy, tác
giả hai phim truyện từng một thời làm sôi nổi: "Hà Nội Trong Mắt Ai"
1982 và "Chuyện Tử Tế" 1985, thực hiện với những nhân vật mà Kevin
Bowen xưng tụng là "những nhà văn, những nhà tư tưởng sâu sắc đáng kính".
Những nhân vật
được phỏng vấn gồm một số các nhà văn mà hầu hết tôi có quen hoặc có biết,
trong đó gần một nửa đã có lần cùng tôi ngồi trong những bữa rượu hoặc bàn trà:
Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Nhật Tiến, Cao Xuân Huy, Nguyễn Mộng Giác, Hoàng Khởi
Phong, Trương Vũ, Wayne Karlin, Tuyết và Chris.
Nhìn vào
danh sách những người được phỏng vấn mà tôi vừa kê ra bên trên, chắc chắn có rất
nhiều quý vị trong giới, am tường sinh hoạt văn học ở hải ngoại đã có ngay ấn
tượng như thế nào về nội dung của cuốn sách, của những câu trả lời!
Tuy nhiên, nội
dung của Bài Một này như đã "ấn định", là sẽ viết về 56 trang đầu của
"Nếu Đi hết Biển…", gồm: Lời trích của Chritopher Jenkins, Tôi và Em,
trang 7. Lời Giới Thiệu của Kevin Bowen từ trang 11 đến trang 13. (Phần) Một: Mấy
Lời Rào Đón của Trần Văn Thủy, từ trang 17 đến trang 20. (Phần) Hai "Nếu
Đi Hết Biển…" "tự truyện Trần Văn Thủy" từ trang 21 đến trang
24. (Phần) Ba: Một Bức Thư từ trang 25 đến trang 41. (Phần) Bốn Thầy Mù Xem Voi
từ trang 43 đến trang 56. Từ phần Năm trở đi, mới là vào những bài phỏng vấn.
Một điều tôi
tin rất đích xác là mỗi một nhà văn, nhà thơ, cán bộ văn hóa nào từ Việt Nam được
Nhà Nước Việt Cộng "cấp thông hành" cho ra nước ngoài, đều phải mang
theo một nhiệm vụ. Vậy khi "hoàn tất nhiệm vụ" trở về VN, tất nhiên
phải viết ra một bản "báo cáo, tường trình". Bản "báo cáo, tường
trình" lần này của Trần Văn Thủy là một thành quả quá sức mong đợi của Nhà
Nước Việt Cộng! Công tác phí của Trần Văn Thủy, Nhà Nước Việt Cộng không tốn một
đồng! Bản "báo cáo, tường trình" của Trần Văn Thủy, lại cũng do
William Joiner Center bảo trợ, còn được phổ biến rộng rãi khắp thế giới trong cộng
đồng Việt tị nạn…
Vậy nhiệm vụ
của nhà đạo diễn Trần Văn Thủy trong sự vụ này là gì? Trong "Nghị Quyết
Toàn Diện Về Người Việt Ở Nước Ngoài" với mục đích mới và kế hoạch mới là
"Trọng Dụng Nhân Tài Người Việt Nam Ở Nước Ngoài", được chính thức
công bố trên báo Tuổi Trẻ số 72 / 2004 (4076), ngày 31 tháng 3 năm 2004 (xin
tìm đọc toàn bộ Nghị Quyết đăng lại trên báo Lẽ Phải số 250, tuần này, ngày 22
tháng 4 năm 2004), có một đoạn quan trọng như sau:
"Hoàn
chỉnh và xây dựng mới hệ thống chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, phát
huy sự đóng góp của trí thức kiều bào vào công cuộc phát triển đất nước….."
Trần Văn Thủy,
từ hai cuốn phim truyện "Hà Nội Trong Mắt Ai" 1982 và "Chuyện Tử
Tế" 1985, đã gầy được không ít cảm tình của những người Việt tị nạn lưu
vong. Với những hình ảnh, những dàn dựng và đối thoại trong hai truyện phim, Trần
Văn Thủy được chẳng những rất nhiều người Việt trong nước mà ngay cả một số những
người Việt lưu vong tức thì đã xem Trần Văn Thủy như là một người làm nghệ thuật
có đầu óc cấp tiến, dám can đảm lật ra mặt trái của xã hội chủ nghĩa Việt
Nam…mà không sợ quyền lực độc tài. Với câu kết trong "Chuyện Tử Tế"
thay cho chữ Hết của cuốn phim:
"… Tất
nhiên, chỉ có súc vật mới có thể quay lưng lại nỗi đau khổ của đồng loại, và
chăm lo riêng cho bộ da của mình…"
(Chuyện Tử Tế,
cuối phim)
Đảng và Nhà
Nước đã cố công tài bồi cho Trần Văn Thủy thành một hiện tượng như vậy. Đừng bảo
tôi đa nghi! Hãy làm ơn cử ra cho tôi một con người "can đảm",
"dám nói thật" dưới chế độ Việt Cộng mà không hề bị một sự trừng trị
răn đe nào (thực sự) áp đặt lên con người đó… Và nay lại được cho thong dong
qua Mỹ để thực hiện những cuộc phỏng vấn "những nhà văn, nhà tư tưởng sâu
sắc đáng kính"… trong cộng đồng Việt tị nạn.
Trần Văn Thủy
dành nguyên một trang 7, để mở đầu cuốn sách với lời trích Chritopher Jenkins
(Tôi và Em) đầy thơ mộng, nồng nàn và nhân bản:
"Thời
gian của chúng ta còn bao nhiêu nữa để ta có thể yêu người bạn đời của mình? Ta
còn đủ thời gian không? Hay ta chẳng còn bao nhiêu? Tôi luôn tự hỏi: Mình cần
bao nhiêu thời gian để yêu người mình yêu?"
Vâng, đúng
là thời gian đi quá nhanh, và thời gian cho một đời người vì thế, quá ngắn! Trần
Văn Thủy kêu gọi con người hãy tận tình thương yêu "người mình yêu",
hay thương yêu tất cả những cái gì đó mà đáng lý ra và vốn dĩ là "thuộc về
mình". Như đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam, những đồng bào ruột thịt
nãi chuối buồng cau gì đó thuộc về Việt Nam "của mình". Nhưng tất cả
những thứ đó, có thực sự còn là "của mình", của người Việt Nam không?
Hay là của Đảng, của Nhà Nước Việt Cộng?
Hơn nữa,
đúng là thời gian đi quá nhanh, và thời gian cho một đời người vì thế, quá ngắn!
Vậy thì Đảng và Nhà Nước Việt Cộng đã mất bao nhiêu thời gian để đi từ "bọn
ngụy quân, ngụy quyền, theo gót đế quốc Mỹ" lưu vong tị nạn hãi ngoại, để
đến "Người Việt ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là một nguồn lực
của cộng đồng dân tộc VN, là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp
tác, hữu nghị giữa nước ta với các nước"??? (trích Nghị Quyết Toàn Diện Về
Người Việt Ở Nước Ngoài, báo TT đã dẫn). Gần ba mười năm, hơn ¼ thế kỷ! Bao
nhiêu sinh mạng điêu linh lầm than thất tán, bao nhiêu đời người đã cạn kiệt
trong khoảng thời gian này.
Kevin Bowen
mở đầu bài giới thiệu "Nếu Đi Hết Biển…" bằng một câu của Goethe:
"Con người không thể đối diện với quá nhiều sự thực". Phải chăng, vì
đặt nền tảng tư tưởng của chính mình vào câu này mà Kevin Bowen luôn chủ trương
làm những công cuộc giả? Thuê mướn những "nhà văn học giả" từ trong
nước Việt Nam qua Mỹ để viết về "sinh hoạt văn hóa của cộng đồng người Việt
tị nạn lưu vong"? Và bây giờ với "Nếu Đi hết Biển…", cho Trần
Văn Thủy phỏng vấn "những nhà văn, nhà trí thức sâu sắc đáng kính" mà
chỉ mới nghe liệt kê tên, người trong giới văn học hải ngoại đã mường tượng là
họ sẽ trả lời những gì và như thế nào ra sao!!!
Nếu Kevin
Bowen và William Joiner dám "làm lại", tài trợ cho Tôi, Trần nghi
Hoàng về Việt Nam phỏng vấn một số "nhà văn, nhà tư tưởng bình thường"
thôi, nhưng do chính tôi chọn lựa, về cùng một đề tài của "Nếu Đi hết Biển…",
thì sự việc mới đề huề! Thì lúc đó, thay vì trích dẫn câu của Goethe, hãy dùng
câu của tôi:
"Một
con người, một dân tộc đất nước muốn tiến bộ và hùng cường về mọi mặt, điều tất
yếu là phải dám đối diện với tất cả những sự thật."
Do đó, cái
câu đầu trong đoạn cuối Lời Giới Thiệu của Kevin Bowen trở thành trơ trẽn, vô
giá trị:
"Những
đối thoại và tham luận trong tập sách này là những dữ liệu cần đọc cho bất cứ
ai muốn hiểu sâu về Việt Nam, hiểu được những cái giá phải trả cho cuộc xung đột
ý thức hệ trong thế kỷ qua."
(NĐHB, trang
19)
Bởi vì,
trong những đối thoại và tham luận trong tập phỏng vấn của Trần Văn Thủy, xin
cho biết là có được bao nhiêu phần trăm của "Sự Thực"?
"Sự Thực",
và bất cứ gì được thực hiện bằng Chân Tâm, Thiện Ý thì không cần phải "Mấy
Lời Rào Đón"!
Trần Văn Thủy
chẳng những Rào Đón, mà còn tỏ ra Khiêm Cung một cách rất vô thưởng vô phạt kiểu
Việt Nam rằng:
"Bởi vậy,
đây thuần túy chỉ là những ghi chép thô sơ từ cuộc sống, từ công việc của tôi
cùng với những ý kiến đóng góp, trao đổi trong tình thần của một số quý vị mà
tôi được coi là bạn.
Vậy, nếu ai
muốn tìm kiếm những điều cao siêu về tư tưởng, văn chương hoặc soi mói những điều
kém cỏi về lập trường, quan điểm xin hãy bỏ qua, đứng đọc tiếp."
Kevin Bowen
thì không tiếc lời xưng tụng, nào : "Những tác giả phỏng vấn là những nhà
văn, những nhà tưởng sâu sắc đáng kính, với những tiếng nói đa dạng và phong
phú"; nào: ""Những đối thoại và tham luận trong tập sách này là
những dữ liệu cần đọc cho bất cứ ai muốn hiểu sâu về Việt Nam, hiểu được những
cái giá phải trả cho cuộc xung đột ý thức hệ trong thế kỷ qua." Trong khi
chính người thực hiện, chính tác giả thì lại minh xác là đừng "tìm kiếm những
điều cao siêu về tư tưởng, văn chương hoặc soi mói những điều kém cỏi về lập
trường, quan điểm xin hãy bỏ qua, đứng đọc tiếp."
William
Joiner Center bỏ tiền tài trợ cho Trần Văn Thủy từ Việt Nam qua để phỏng vấn
"một số quý vị mà Trần Văn Thủy được coi là bạn". Kevin Bowen lại nhầm
lẫn những người bạn naỳ của Trần Văn Thủy là những "nhà văn, nhà tư tưởng
sâu sắc đáng kính". Kevin Bowen long trọng cho biết "trong tập sách
này là những dữ liệu cần đọc cho bất cứ ai muốn hiểu sâu về Việt Nam, hiểu được
những cái giá phải trả cho cuộc xung đột ý thức hệ trong thế kỷ qua". Trần
Văn Thủy phản bác lại rằng: "đừng tìm kiếm những điều cao siêu về tư tưởng,
văn chương hoặc soi mói những điều kém cỏi về lập trường, quan điểm xin hãy bỏ
qua, đừng đọc tiếp."
Vậy, đâu là
"sự thực"??? Một cuốn sách chưa tới 200 trang mà người thực hiện nói
một đàng; ông bỏ vàng nói một nẻo… thì nó ra làm sao???
Tôi cũng chẳng
hề có ý nghĩ tìm kiếm những điều cao siêu về tư tưởng văn chương. (Tôi không
tin là nó có được với danh sách tác giả được phỏng vấn mà tôi thấy kê tên!) Tôi
cũng không soi mói những điều kém cỏi về lập trường, quan điểm. Nên tôi sẽ cứ đọc
cho hết cuốn sách, chỉ để tìm "Những Sự Thực", vậy thôi!
Vì thế, phần
rào đón tiếp theo của Trần Văn Thủy sau đây, tôi nghĩ không cần thiết:
"Ở đây
tôi chỉ ghi chép lại đôi điều tôi nghĩ, tôi thấy, tôi trải qua cùng việc trò
chuyện với một số trí thức, nhà văn hải ngoại. Khi con người chỉ muốn trình bày
cái sự nghĩ của mình mà phải rào đón là không có khả năng tranh cãi với ai, tự
biết đã hèn lắm rồi."
(NĐHB, trang
20)
Trần Văn Thủy
nhận là mình hèn. Tôi cứ tin ông thật sự là người như vậy đi. Những người
"không cộng sản" như tôi vốn dễ tin!!! Nhưng điều tôi nhận thấy ở Trần
Văn Thủy là một tay nghề rất cứng. Ngay cả ở những cái hàng rào mà Trần Văn Thủy
đã lần lượt dựng ra.
Ở phần Một
mà Trần Văn Thủy đặt tiểu đề là "Mấy Lời Rào Đón" và đã rào đón như
thế nào tôi đã dẫn. Thì phần Hai Nếu Đi Hết Biển… mới là một cú Rào Đón ngoạn mục
và hết sức cảm động!
Trần Văn Thủy
kể chuyện về thím Nhuận, người vú nuôi nhà quê mù chữ đã chăm sóc Trần Văn Thủy
lúc bé thơ. Trần Văn Thủy lục vấn bà thím nếu đi hết làng "ta" thì đến
làng nào. Bà thím trả lời trôi chảy cho tới hai câu chót:
"-Đi hết
làng An Đạo thì đến đâu?
-Đi hết làng
An Đạo thì đến biển.
Bà tự tin giảng
giải cho tôi. Tơi vô cùng khâm phục sự hiểu biết rộng lớn của bà. Bỗng tôi nhỏm
dậy hỏi thiếm:
-Thế đi hết
biển thì đến đâu hả thím?
Trong đêm tối,
thím tôi im lặng. Từ ngày có trí khôn chưa bao giờ tôi thấy thím buồn đến thế.
Thìm buồn bã trả lời:
-Đi hết biển
đến đâu thì thím không biết."
(NĐHB, trang
23)
Phần
"Ba Nếu Đi Hết Biển…" là phần xương sống của cuốn sách, hết sức quan
trọng. Trần Văn Thủy tiếp tục "dẫn" người đọc vào những xúc động nao
lòng người:
"Quê
tôi người đi đạo, người đi lương xấp xỉ bằng nhau. Sau 1954 người ta đi Nam
cũng nhiều và sau 1975 người ta đi tiếp sang Mỹ cũng lắm. Dễ hiểu thôi, nơi đó
là miền biển của tỉnh Nam Định, thuộc giáo phận Bùi Chu, chỉ qua con sông Ninh
Cơ là đến giáo phận Phát Diệm.
*
Giờ đây trên
đất Mỹ, tiếp xúc với cộng đồng người Việt, tôi không khỏi băn khoăn về cái điều
tâm huyết tôi nói bên mộ thím tôi: ‘Nếu đi hết biển, qua các đại dương và các
châu lục, đi mãi, đi mãi thì cuối cùng lại trở về quê mình, làng mình…’ Tôi
không biết trong lịch sử thịnh suy của đất nước tôi, có thời điểm nào, hoàn cảnh
nào dẫn đến sự ly tán lòng người sâu thẳm, dẫn đến việc hàng triệu người chạy
ra biển ly hương bất cần mạng sống đến thế không. Nhưng tôi biết rất rõ không
ít người Việt xa xứ "qua các đại dương và các châu lục đi mãi, đi
mãi" mà cuối cùng không thể "trở về quê mình, làng mình được.
Tôi đã nhầm
khi tưởng rằng điều tâm huyết của tôi trong bộ phim nọ đúng với mọi người. Ở
đây, người ta đi hết biển thì chỉ tới nước Mỹ. Và tại nước Mỹ, cộng đồng người
Việt là một thế giới muôn hình muôn vẻ, với bao nhiêu vấn đề cần suy ngẫm, luận
bàn, không có giấy mực nào tả xiết".
(NĐHB, trang
24)
Đi hết biển
đến đâu thì "bà thím" của Trần Văn Thủy không biết! Trần Văn Thủy bây
giờ đã đi nhiều, đã bay qua "các đại dương, các đại lục" không biết
bao nhiêu lần.
"Rồi
công việc đưa đẩy, tôi lui tới nước Mỹ nhiều lần, bay trên ba chục chuyến bay
trong nội địa nước Mỹ. Tôi thấy được nhiều điều và cũng vỡ ra ra được nhiều điều.
Nếu bén gót được đệ tử, cháu chắt cụ Nguyễn Tuân thì tôi có thể dám viết một cuốn
sách với tựa đề "Nước Mỹ Rong Chơi". Viết như thế mới sướng. Nhưng
tôi đã lỡ theo cái nghiệp…"
Tôi thấy Trần
Văn Thủy không phải lỡ theo cái nghiệp gì hết. Trần Văn Thủy đi nhiều gấp… một
trăm lần Nguyễn Tuân. Nhưng đồng thời tôi thấy Trần Văn Thủy vẫn còn đứng y
nguyên ở cái làng An Phú Nam Định Việt Nam! Tôi có thể thay mặt Trần Văn Thủy
mà trả lời thím Nhuận rằng:
"Thưa
thím, con đã đi qua hết nhiều biển, nhưng quả tình là con cũng chả đi đến đâu.
Chỉ vì, dường như con chưa "Thực Sự" dám đi!"
Bởi vì, cho
đến bây giờ hơn nửa thế kỷ miền Bắc VN đã chịu trong lầm than ngu tối của chủ
nghỉa Cộng Sản, và rồi gần ba mươi năm nguyên đất nước VN cùng vào kiếp nạn, mà
Trần Văn Thủy, một người sinh ra và lớn lên ở Nam Định miền Bắc lại giả vờ tự hỏi:
"Tôi không biết trong lịch sử thịnh suy…." Tôi nói là Trần Văn Thủy
giả vờ, vì tôi không tin một người như Trần Văn Thủy mà không biết là trong lịch
sử Việt Nam, chưa từng bao giờ có một cuộc lưu vong bỏ nước ra đi lớn lao như vậy!
Và dĩ nhiên không ít người Việt xa xứ "qua các đại dương và các châu lục,
đi mãi, đi mãi" mà cuối cùng không thể "trở về quê mình, làng
mình" được là vì sao? Xin đọc và ngẫm:
"HÀ
CHÍNH MÃNH Ư HỔ
Tức là chính
sách hà khắc của chính quyền còn dữ hơn cọp mạnh. Đức Khổng Tử cùng đám học trò
đi sang nước Tề, qua núi Thái Sơn, thấy một người đàn bà khóc nghe thảm thiết;
bèn sai Tử Cống đến hỏi duyên cớ. Người đàn bà thưa: "Ở đây có lắm hổ dữ.
Cha chồng tôi khi trước đã chết vì hổ, chồng tôi sau cũng chết vì hổ, nay con
tôi lại cũng chết vì hổ nữa. Thảm lắm ông ơi." Thầy Tử Cống bảo: "Thế
sao bà chẳng bỏ chỗ này, đi ở nơi khác?" Đáp: "Tuy vậy, nơi đây chính
sách quan tr6en không đến nỗi hà khắc như các nơi khác". Đức Khổng Tử nghe
qua, bảo với các học trò: "Các ngươi nhớ đấy! Chính sách hà khắc khốc hại
hơn hổ dữ".
Bao nhiêu
con người Việt Nam đã bỏ nước Việt Nam, tay trắng mà ra đi là vì cái chính sách
hà khắc ngu tối của Nhà Nước Việt Cộng. Trần Văn Thủy có thể nói rằng những người
dân miền Nam vì sợ trả thù, vì "ngụy quân, ngụy quyền" thế này thế
kia nên bỏ nước ra đi để cầu an. Nhưng còn những người dân miền Bắc, sinh ra và
lớn lên trong chế độ Cộng Sản, những người ở làng An Phú quê hương Trần Văn Thủy
thì tại sao "1954 người ta đi Nam cũng nhiều và sau 1975 người ta đi tiếp
sang Mỹ cũng lắm"?
Dường như,
những con người Cộng Sản rất dễ nhầm lẫn! Hay nhầm lẫn vốn là bản chất của những
con người Cộng Sản? Tôi chưa biết! Ở đoạn cuối Phần Hai, Trần Văn Thủy viết:
"Tôi đã
nhầm khi tưởng rằng điều tâm huyết của tôi trong bộ phim nọ là đúng với mọi người.
Ở đây, người ta đi hết biển thì chỉ tới nước Mỹ. Và tại nước Mỹ, cộng đồng người
Việt là một thế giới muôn hình muôn vẻ, với bao nhiêu vấn đề cần suy ngẫm, luận
bàn, không có giấy mực nào tả xiết."
(NĐHB, trang
24)
Làm thế nào
mà một bộ phim "nọ" thôi, lại có thể đúng với tất cả mọi người? Trừ
phi, phải, trừ phi là một bộ phim của Nhà Nước Việt Cộng thực hiện và toàn dân
Việt Nam đang sống dưới chế độ không có chọn lựa nào khác hơn là công nhận
"Nó Đúng"!
Những người
Việt lưu vong, đang sống tại nước Mỹ là những người Việt không công nhận, không
sống chung được với Chủ Nghĩa và Nhà Nước Việt Cộng. Dĩ nhiên, cộng đồng Việt ở
Mỹ là một thế giới muôn hình, muôn vẻ, tốt có, xấu có, với bao nhiêu là vấn đề
cần suy ngẫm , luận bàn… Nhưng trên hết và rốt ráo là Họ, những người Việt lưu
vong đang sống tại Mỹ - mỗi người đều có được cái quyền tự do chọn lựa cho
chính Họ, gia đình Họ, con cháu Họ một tương lai…
Phần Ba, là
một cuộc rào đón quy mô mà theo tôi, Trần Văn Thủy đã bỏ nhiều công sức nhất!
Phần này có tựa là "Một Bức Thư". Đúng ra, trong Phần Ba có tới hai bức
thư. Một bức của Nguyễn Hữu Thái, em ruột người bạn thiếu thời "thân nhất"
của Trần Văn Thủy là Nguyễn Hữu Đính. Bức thư của Nguyễn Hữu Thái chừng một
trang sách. Nhưng bức thư của Nguyễn Hữu Đính mà theo Trần Văn Thủy là dài 16
trang viết tay. Tôi đếm trong "Nếu Đi Hết Biển…", bức thư của Đính
dài ngót nghét 12 trang sách! Tôi sẽ lần lượt đưa ra những sơ sót của nhà đạo
diễn Trần Văn Thủy!
Trần Văn Thủy
mở đầu Phần Ba, vẫn với cung cách Khiêm Cung Nhũn Nhặn để dễ bề lọt qua tất cả
những "Khung Cửa Hẹp":
"Tại
nơi đây, nước Mỹ, tôi muốn viết lại câu chuyện riêng tư như thế này. Câu chuyện
có lẽ cũng không có gì đặc biệt, nhưng nó quan hệ đến quá khứ, hiện tại và cả
tương lai trong cac1h nhìn nhận của tôi.
Tôi có một bức
thư mà các con tôi khi đọc, chúng bảo rằng: "Bố ơi, đây là kịch bản của một
bộ phim truyện hay." Tôi vốn ít quan tâm đến phim truyện, đến sự hư cấu,
và đóng diễn. Tôi vốn ít có thời gian quan tâm đến những chuyện thật trong cuộc
đời, mà bức thư tôi có trên tay là một chuyện thật, chuyện thật của một thằng bạn
thuở học trò."
(NĐHB, trang
24)
Tôi thực sự
không hiểu Trần Văn Thủy muốn nhắn gửi gì đến người đọc? Trần Văn Thủy "ít
quan tâm đến phim truyện, đến sự hư cấu, và đóng diễn". Ông lại "vốn
ít có thời gian quan tâm đến những chuyện thật trong cuộc đời…" Vậy thì,
Trần Văn Thủy "thực sự" quan tâm và có thời gian quan tâm đến những
thứ gì??? "Hư Cấu" hay "Chuyện Thật Trong Cuộc Đời", Trần
Văn Thủy đều không hoặc ít có thời gian quan tâm! Tôi tin Trần Văn Thủy đã nói
thật! Trần Văn Thủy chỉ có quan tâm đến "công tác", "nhiệm vụ"
mà Đảng và Nhà Nước đã giao phó cho ông. Ông không cần biết đến những gì là
"hư cấu" hay "chuyện thật". Công tác, nhiệm vụ là trên hết!!!
Rồi sau đó,
Trần Văn Thủy cà kê, tỉ mỉ kể lễ về tình bạn với Nguyễn Hữu Đính ở niên khóa
1953 - 1954 lớp đệ thất B3 trường Nguyễn Khuyến Nam Định.
"Tôi ngồi
cạnh một thằng bạn thân, học giỏi, tính tình điềm đạm tên Nguyễn Hữu Đính. Nhà
Đính buôn gạo. Ngôi nhà to rộng, xây theo kiểu cổ nhưng có ban công, trên đề tên
hiệu buôn là "Linh Lợi", nét chữ mềm mại, ở số nhà 49 phố Bến Thóc,
trước nhà có một cây phượng vĩ rất to.
Câu chuyện về
Đính lại liên quan đến một thằng bạn khác trong lớp, tôi quên họ nhưng nhớ tên.
Đó là Viễn. Gia đình Viễn ở quê và hoàn cảnh cũng túng bấn…..
Nhà tôi cũng
chẳng rộng lắm, nhưng thầy mẹ tôi vốn chiều bạn bè của con cái nên Viễn tá túc ở
nhà tôi…."
(NĐHB, trang
26)
Nhà đạo diễn Trần Văn Thủy nhớ từng chi tiết của
căn nhà bạn thân Nguyễn Hữu Đính. Nhà kiểu cổ nhưng có ban công, số nhà, cây
phượng vĩ… Và Trần Văn Thủy dĩ nhiên đã từng đến nhà người bạn thân này rất nhiều
lần… Cũng như Nguyễn Hữu Đính đã từng đến nhà Trần Văn Thủy nhiều lần lén đưa gạo
cho Thủy, giúp "góp phần" để nuôi Viễn. Tuy thân với Đính đến như thế,
nhưng đến 1954, sau khi Đính đến từ giả Thủy để vào Nam: "Thủy ơi, gia
đình tớ đi. Đừng quên nhau nhé, tớ sẽ viết thư", Trần Văn Thủy lại chưa từng
biết là Nguyễn Hữu Đính có người anh (em) ruột tên Nguyễn Hữu Thái. Trần Văn Thủy
sau 1975 vào Nam, ngaỳ giời tháng bụt, đã cất công đi tìm người bạn nối khố thuở
thiếu thời Nguyễn Hữu Đính khắp đầu ghềnh cuối bãi nhưng không thấy. Mỗi lần được
xuất dương ra ngoại quốc, trong các buổi nói chuyện, Trần Văn Thủy đều cố tình
nhắc tới ngôi trường, cái làng mà Thủy và Đính đã học ngày xưa ở Nam Định, hy vọng
rằng nếu Đính có vượt biên ra ngoại quốc tị nạn thì có cơ biết đến mà liên lạc
với Thủy.
"Thế rồi
may hơn khôn, một dịp rất ngẫu nhiên, một người giúp tôi phát hiện hiện ra người
anh em gì đó của Đính còn sinh sống rại Sài Gòn. Tôi vội vã viết một bức thư.
Chỉ mấy ngaỳ sau tôi nhận được thư trả lời."
(NĐHB, trang
27 & 28)
Và Trần Văn
Thủy cho người đọc biết Nguyễn Hữu Thái chính là em ruột của Nguyễn Hữu Đính.
Trong thư của Nguyễn Hữu Thái, trước khi cho Trần Văn Thủy địa chỉ của Nguyễn Hữu
Đính đang ở Montréal, Canada, có đoạn:
"Ngày
xưa anh Đính tôi chơi rất thân với ông (anh Thủy) và ông Sơn (anh Sơn DURAS).
Các anh thường xem ciné tại rạp văn Hoa (phố Paul Bert), Majestic (phố Hàng
Thao)…
. . . . . .
.
Tôi còn nhớ
rất rõ cái đêm hai anh Thủy - Đính chia ly, ông có tặng anh tôi một quyển lưu
bút rất hay mà ngày nay anh Đính vẫn lưu giữ cẩn thận. Và đêm chia ly ấy anh
tôi khi về nhà đã khóc!"
(NĐHB, trang
28)
Quả là hết sức cảm động, lâm ly! Tôi chẳng ngạc
nhiên tí nào khi các con Trần Văn Thủy đã tán thán về câu chuyện ‘Một Bức
Thư": "Bố ơi, đây là kịch bản của một bộ phim truyện hay."
Chẳng qua,
Trần Văn Thủy vì quá cẩn trọng mà thành ra sơ hở. Những chi tiết nhỏ cố tạo để
minh chứng tình bạn thắm thiết với Nguyễn Hữu Đính như đoạn trong cái gọi là
thư của Nguyễn Hữu Thái mà tôi vừa trích dẫn, nó thừa và tố cáo… cho tôi biết
tác giả "bức thư Nguyễn Hữu Thái" chính là… Trần Văn Thủy! "Ngày
xưa anh Đính tôi chơi rất thân với ông (anh Thủy)…" Câu văn này phải do Trần
Văn Thủy muốn đóng vai Nguyễn Hữu Thái nào đó nên nó mới thành như vậy! Ông đạo
diễn Trần Văn Thủy tỏ ra rất kém về… tâm lý đối thoại! Nếu có một Nguyễn Hữu
Thái thật, câu văn nên đại để như sau:
"Ngày
xưa, tôi nhớ ngoài ông (anh Thủy), anh Đính tôi còn rất thân với ông Sơn (anh
Sơn DURAS). Ông có tin tức gì về ông Sơn không, anh Đính tôi cũng rất lưu tâm
tìm ông Sơn và ông bấy lâu nay?"
Giọng văn của
bức thư Nguyễn Hữu Thái, giọng văn bức thư Nguyễn Hữu Đính mà tôi sẽ phân tích
dưới đây, cùng với giọng văn Trần Văn Thủy là MỘT.
Người bạn
"thiếu thời Nguyễn Hữu Đính" của Trần Văn Thủy là một "người"
rất lạ lùng! Tôi xin lần lượt liệt kê những điểm "lạ lùng" của ông ta
dưới đây:
1.Bức thư viết
tay gửi cho Trần Văn Thủy từ Montréal Canada dài 16 trang, khi Trần Văn Thủy in
vào sách thành 12 trang (?),thì chắc ông Đính này phải là người có lối viết chữ
tay nhỏ nhất thế giới! Trong gia đình tôi có ông em từng đi học tập cải tạo.
Ông em tôi đã qua Mỹ được ngót chục năm. Tôi nghe không biết bao nhiêu là chuyện
về tù cải tạo từ ông em, và từ những ông bạn HO hiện đang sống khắp nơi trên thế
giới. Ngay cả những ông HO ở tù lâu năm, mỗi lần viết thư cho gia đình, vì tiết
kiệm giấy viết chữ nhỏ đi chăng nữa, cũng chả thế nào viết nhỏ được như ông
Nguyễn Hữu Đính! Mỗi chữ "ông Đính" viết trong thư "cho ông Thủy",
muốn nhìn thấy, đọc được, tôi cam đoan phải dùng kính hiển vi! Ông đạo diễn Trần
Văn Thủy cân đo như vậy xem chừng không ổn! 16 trang viết tay, không thể bày
thành 12 trang sách!
2.Ông Nguyễn
Hữu Đính tỏ ra biết và thích nói về nhiều chuyện của phía Việt Cộng, chẳng hạn
trong một đoạn thư: "… Cậu sinh viên cho biết nhà làm phim Trần Văn Thủy
còn rất trẻ. Mình nghĩ người làm phim này không phải là Thủy. Vì lúc đó, mình
và Thủy đã trên 50 tuổi rồi, còn trẻ cái con khỉ gì nữa! Rồi mình lại nghĩ miên
man bởi cái câu: "Sinh Bắc Tử Nam", với những trận mưa bom như thế,
chắc gì Thủy còn sống?" Nhưng rồi ở một đoạn thư sau, "ông Đính"
lại viết: "Ngày 12 tháng 5 năm 1975, mình trình diện học tập cải tạo. Những
gì ở trong trại cải tạo mình xin miễn kể ra đây. Chỉ biết mình qua bốn trại cải
tạo: Hóc Môn, Long Khánh, đảo Phú Quốc, Hàm Tân." Ủa? Sao kỳ cục vậy???
Chuyện Sinh Bắc Tử Nam, là chuyện của ông Trần Văn Thủy Việt Cộng thì ông Nguyễn
Hữu Đính thích nói tới, thích lo cho ông Thủy đã "bỏ mình" trong
"những trận mưa bom". Còn chuyện "Nguyễn Hữu Đính con nhà Ngụy
vượt tuyến vào Nam 54", sau 1975 "trình diện cải tạo tức là đi tù lao
cải", thì "ông Đính" lại xin phép "miễn kể ra đây". Tại
sao lại "miễn kể ra đây"??? Hơn ba năm tù đâu phải chuyện nhỏ! Nhất
nhật tại tù, thiên thu tại ngoại. "Ông Đính" kể đầu đuôi ngọn nguồn đủ
mọi chuyện; nhưng lại nhất định không kể chuyện thời ở tù cho "bạn thiếu
thời Trần Văn Thủy" nghe. Tôi không thể lý giải nổi sự vụ này! Trong bức
thư "dài 16 trang viết tay 12 trang sách", "ông Đính" đã kể
dong dài đủ mọi chi tiết, từ học hành công ăn việc làm cho đến lấy vợ đẻ con.
Thậm chí, ngay cả những chi tiết lẩm cẩm "đã quen biết với bà vợ hiện tại
ra làm sao…" Như vậy, thực ra, "ông Đính" biết rành rẽ chuyện
"Sinh Bắc Tử Nam dưới những trận mưa bom"; chứ chuyện "ở tù lao
cải" thì dường như ông chả biết gì sốt!
3."Ông
Nguyễn Hữu Đính" viết trong "bức thư 16 trang viết tay 12 trang
sách" về ngày biến cố tháng Tư 75 như sau: "Thế là mình quyết định ở
lại. Khi đoàn xe tăng cách mạng vào thành phố, mình thấy có nhiều người lính chế
độ cũ chạy vào mấy đường hẻm tự sát. Có khi một người, có khi hai người, có khi
mấy người chụm đầu vào nhau rồi mở chốt lựu đạn". Thứ nhất, tôi không tin
bất cứ một người nào của miền Nam đã từng ở tù lao cải (lao động, cải tạo tư tưởng!),
mà lại có thể gọi đoàn quân Việt Cộng vào chiếm miền Nam là "đoàn xe tăng
cách mạng". Cũng như, họ sẽ không bao giờ gọi những người cùng màu cờ sắc
áo với họ là "lính của chế độ cũ". Thứ hai, tôi biết có một vài người
lính đã tự sát vào cái ngày tang thương 30 tháng 4 năm 75… Nhưng chỉ một vài
thôi… Tuy nhiên, với lối tả tình tiết tỉ mỉ của "ông Đính bạn ông Thủy
trong thư", thì có vẻ như những người lính Cộng Hòa đã lũ lượt rũ nhau… đi
vào những con hẻm để tự tử. Lúc một người, lúc hai người, và có khi mấy người…
chụm đầu cùng nhau tự tử! Chẳng thấy "ông Đính" đứng "rình rập"
theo dõi những vụ tự tử của anh em quân đội Cộng Hòa đã "tổng kết" được
là có bao nhiêu sinh mạng đã cùng "rủ nhau" tự sát theo "trí tưởng
tượng" của nhà đạo diễn Trần Văn Thủy??? Ông Trần Văn Thủy cũng nên dè chừng,
dàn dựng truyện phim như vậy, biết đâu lại "phản tuyên truyền"… thì
chết! Trong bất cứ cuộc chiến nào từ xưa tới nay, nếu đoàn quân chiến thắng tiến
vào chiếm đất dành dân, mà người dân hoặc người lính của vùng đất chiến bại lại
cùng nhau lũ lượt tự sát, thì có phải là vì họ quá sợ hãi sự tàn ác, vô nhân đạo,
khát máu của đoàn quân chiến thắng hay không????
Còn nữa,
"lần tự tử thứ hai của ông Đính" khi đi tù ở Phú Quốc, được "kể
lại" trong thư như sau ("ông Đính" có kể tỉ mỉ trong thư những lần
ông này "định tự tử" cho ông Trần Văn Thủy đọc, nhưng lại tuyệt đối
miễn kể chuyện "tù lao cải"!): "Nhưng sống chết hình như có số cả
Thủy ạ. Đêm hôm đó, sau khi mình cầm sợi dây dù, lẳng lặng đi về phía cầu tiêu,
đến chân thang, mình bình tĩnh bước từng bước một lên bực thang, miệng lẩm bẩm
đọc mấy câu kinh Phật, khi leo lên đến lưng chừng cái thang thì trên chòi canh
cạnh hàng rào, một vệ binh quát to: - Anh kia! Làm gì thế?" "Ông
Đính" này quả thật đặc biệt! Ông ta chẳng biết do phép lạ nào, đã chuẩn bị
được cả "dây dù" để tính bề tự treo cổ. Ông xách dây dù đi lơ ngơ và
còn leo cả lên… những bực thang. Đến nỗi "một vệ binh" phải quát to,
ông mới lủi thủi trở về chỗ nằm của ông trong tù, và đành thúc thủ trong chuyện
tự tử đêm hôm đó!!!… Một lần nữa, Trần Văn Thủy đã sơ hở… khi cho một anh tù cải
tạo, viết thư cho bạn lại gọi "cán bộ hay quản giáo" chi đó là
"vệ binh". Vệ binh, là danh từ của phía Việt Cộng dùng để gọi nhau
thôi… Chỉ có "ông tù Nguyễn Hữu Đính", bạn Trần Văn Thủy mới… khác
người như vậy!
4.Trần Văn
Thủy cũng có mưu toan cho "ông Nguyễn Hữu Đính bạn thiếu thời" tự tử
mấy phen. Nhưng cuối cùng "ông Đính" vẫn phải sống để sau này còn có
dịp viết thư cho Trần Văn Thủy từ Montréal Canada. "Ông Đính", thực
ra, có viết trong thư vài dòng về "sự tù tội" của ông ta: "Mình
đi cải tạo hơn 3 năm thì được về, vì mình tuy là quân đội nhưng biệt phái sang
cơ quan dân sự, không đánh đấm gì cả. Hơn nữa dân biệt phái cấp bậc chỉ lên đến
cỡ trung úy là cùng. Thành ra về tội, mình cũng nhẹ và về cấp bậc mình cũng nhẹ".
Đọc đoạn vừa trên, tôi có cảm giác đang đọc Trần Văn Thủy quãng diễn về hoàn cảnh
cá nhân của nhân vật mà Thủy dựng nên. Có điều, Trần Văn Thủy đã quá lộ liểu
khi trong một bức thư của hai người bạn học cũ thời tuổi thơ, sau 45 năm mới
liên lạc lại được nhau, viết thư cho nhau lại phải "kể công kể tội"
vì đã từng đứng từ hai chiến tuyến đối đầu nhau!!! Đó không phải là ngôn ngữ của
thư từ… Thư từ riêng viết cho nhau giữa hai người bạn cũ, vả lại người viết thư
đang sống ở Canada, một xứ sở tự do, thì đâu cần phải dùng ngôn ngữ tuyên truyền
lấy lòng này nọ! Nào là "mình tuy là quân đội nhưng biệt phái sang cơ quan
dân sự, không đánh đấm gì cả"; nào là "dân biệt phái nên cấp bậc chỉ
lên đến cỡ trung úy là cùng"; rồi "thành ra về tội mình cũng nhẹ về cấp
bậc mình cũng nhẹ." Tại sao lại phải dài dòng biện minh như vậy???
5.Chuyện
phim "Một Bức Thư" của Trần Văn Thủy dàn dựng rất nhiều scenes bi thảm.
Tuy nhiên, đạo diễn Trần Văn Thủy thiếu nghiên cứu về vùng đất Sài Gòn mà ông
cho nhân vật của mình là Nguyễn Hữu Đính đã rời bỏ miền Bắc vào sống từ sau
1954. "Ông Đính" viết trong thư cho ông Thủy:
"Sau 5
lần vượt biên không thành, mất hết cả vàng bạc, việc làm cũng không kiếm ra,
mình quyết định đạp xích lô ở Sài Gòn vào đầu năm 80. Cuộc đời đạp xích lô thì
khỏi nói. Mình không quên được những bữa ăn ở vỉa hè với một đĩa cơm và một con
cá khô. Nước mưa chảy từ cái mũ xuống ướt đẫm đĩa cơm như chan canh. Mình cũng
không quên được những ngày đạp xích lô, quần áo tả tơi."
(NĐHB, trang
39)
Sài Gòn mưa bóng mây bất chợt từ trong nắng
quái là chuyện hẳn nhiên. Mưa Sài Gòn có thể đổ xuống bất cứ lúc nào. Ở một đoạn
đường này đang nắng ráo, qua đoạn đường tiếp đó chừng năm, bảy trăm thước đã có
mưa rào… Dân đạp xích lô Sài Gòn trước 75 tất nhiên là có cực khổ. Nhưng họ
không cực khổ theo cái kiểu "bi kịch tính" ăn một dĩa cơm với một con
cá khô… Và mưa rơi xuống đẫm đĩa cơm như chan canh… Dân đạp xích lô Sài Gòn thời
trước 75 tôi biết, họ buổi sáng bánh mì trứng chiên cà phê sữa đá; buổi trưa một
đĩa cơm tấm bì sườn chả, một chai beer… Giữa bữa cơm trưa, nếu trời có đổ mưa,
họ chỉ việc bỏ mui xe xích lô lên, rồi ngồi trong xe mà ăn… rất an toàn. Như vậy,
hóa ra sau 1975, nhờ "cuộc cách mạng thần thánh" của Đảng và Nhà Nước
Việt Cộng, đã làm nên cuộc đổi đời khủng khiếp! Nhiều người có ăn học trí thức
đã trở thành dân đạp xích lô. Và, đạp xích lô thì dĩ nhiên là cực khổ, nhưng
như vậy thì đạp xích lô sau 1975 lại càng cực khổ hơn sao? Aên cơm với cá khô
chan canh là cơn mưa từ trời đổ xuống! Dân đạp xích lô Sài Gòn nhiều khi chỉ mặc
có cái quần xà lỏn, vì trời nóng. Và dĩ nhiên, đi đạp xích lô thì phải chọn bộ
quần áo nào cũ, rách, vá, mặc cho nó thoải mái. Dân đạp xích lô có mặc quần áo
tả tơi thì cũng là chuyện bình thường. Tôi không hiểu tại sao Trần Văn Thủy lại
cho "ông Đính" miêu tả về nghề đạp xích lô một cách tang thương là vậy?
Trong khi, ông Thủy lại không cho "ông Đính bạn thiếu thời" của ông,
kể chơi vài chuyện bị đàn áp, chà đạp, khe khắc trong tù…?
6."Ông
Đính" bạn ông Thủy viết tiếp trong thư: "Trong khi đạp xích lô thì bà
xã nạp đơn xin đi Pháp theo diện con lai hồi hương. Và may mắn thay, đơn được
chấp thuận".
(NĐHB, trang
39)
Đến đây thì tôi hiểu là tại sao, ở phần giữa
"bức thư của ông Đính", lại có đoạn đầu cua tai nheo về chuyện
"ông Đính" lấy vợ. Trần Văn Thủy đã biết chuẩn bị cho Nguyễn Hữu Đính
từ đầu bằng mối tình với cô Hồng là một cô gái lai, sau Đính cưới làm vợ.
Đọc Phần Ba
của "Nếu Đi hết Biển…", đến đoạn gần chót:
"Cái
đêm hội ngộ hiếm hoi trong đời sau gần nửa thế kỷ chờ đợi ấy, một thằng Việt cộng
và một thằng Ngụy nằm chung một phòng, chuyện trò râm ran đến tận khuya.. . . .
. . . Mà tôi hình dung ra một sự hoán vị rất có thể xảy ra giữa hai chúng tôi.
Tôi giả định rằng vào cái thời điểm 54 ấy, thầy mẹ tôi không vì sự ràng buộc với
quê cha đất tổ hoặc vì có sự rủ rê mà kéo bầy con cái di cư vào Nam thì tôi trở
thành Ngụy là điều khó tránh khỏi. Còn gia đình bạn tôi, vì một lý do nào đó mà
ở lại miền Bắc thì bạn tôi lại trở thành Việt cộng là cái chắc…"
(NĐHB, trang
41)
Tôi tin Trần
Văn Thủy thành thực khi ở đoạn đầu cho biết là các con của Thủy đã khen:
"Bố ơi, đây là kịch bản của một bộ phim hay". "Một Bức Thư"
nếu dựng thành phim, quả tình nhiều scenes có thể mua được nước mắt của khán giả.
Tuy nhiên, không ít những chi tiết cần "điều chỉnh" lại cho hợp tình,
hợp lý… như tôi đã nêu ra! Một trở ngại lớn cần đặt ra: Trần Văn Thủy "ít
quan tâm đến phim truyện, đến sự hư cấu, và đóng diễn". Ông lại "vốn
ít có thời gian quan tâm đến những chuyện thật trong cuộc đời…" Thế thì,
"Một Bức Thư" là chuyện phim loại gì? Không "hư cấu", cũng
không phải là "chuyện thật trong cuộc đời"… Vậy chỉ có thể "tạm
xem như là" "Một Bức Thư" được hình thành để làm một thứ phương
tiện hữu dụng hòng mong đạt múc đích… "xóa bỏ hận thu" giữa Việt Cộng
và người Việt hải ngoại: "Người Việt ở nước ngoài là bộ phận không tách rời
và là nguồn lực của cộng đồng dân tộc VN, là nhân tố quan trọng góp phần tăng
cường quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa nước ta với các nước (có người Việt tị nạn
lưu vong. Chú thích của TNH). (trích Nghị Quyết Toàn Diện Về Người Việt Ở Nước
Ngoài, báo TT đã dẫn).
Đoạn gần cuối
“Một Bức Thư”, Trần Văn Thủy viết:
“Cái đêm hội
ngộ hiếm hoi trong đời sau gần nửa thế kỷ chờ đợi ấy, một thằng Việt cộng và một
thằng Ngụy nằm chung một phòng, chuyện trò râm ran đến tận khuya.”
(NĐHB, trang
40)
Rõ ràng Trần
Văn Thủy luôn đeo mang trong đầu cái tâm thức của một “thằng Việt cộng”! Trần
Văn Thủy đã không chờ đợi “nửa thế kỷ” để có một cuộc tái ngộ với người bạn
thân nhất thủa thiếu thời Nguyễn Hữu Đính. Công trình dàn dựng “Một Bức Thư” là
công trình của nhiệm vụ, của công tác. Trần Văn Thủy Việt cộng tìm gặp Nguyễn Hữu
Đính không phải là tìm lại những kỷ niệm của một thời thơ ấu. Mà cán bộ văn hóa
Việt cộng Trần Văn Thủy đang làm công tác tìm “thằng Ngụy” Nguyễn Hữu Đính đã từng
học lớp đệ thất B3 trường Nguyễn Khuyến Nam Định ngày xưa, để hoàn tất công tác
tuyên truyền “nối lại tình anh em” với cái đám Ngụy Việt kiều ở hải ngoại!
Chuyện thật
, dù là những chuyện loại “khó tin” vì tính chất “bất hợp lý” của nó, nhưng người
nghe (hoặc người đọc) vẫn có thể lý giải ra mà tin được nhờ vào những cái “mốc”
của những nguyên cớ cần thiết. Một người chết hốt nhiên sống lại, người ta
không lý giải được nên đổ thừa cho “phép lạ”, cho một đấng vô hình tối cao nào
đó… Cất công đi đầu ghềnh cuối bãi, thậm chí lang thang khắp thế giới… tìm một
người bạn thiếu thời… mà lại với tâm thức “một thằng Việt cộng” đi gặp “một thằng
Ngụy”, thì thật là một điều rất nên thương tâm!!!
Nhưng, suy
ra cũng chẳng việc gì để thương tâm, khi chúng ta ý thức được rằng Trần Văn Thủy
thực hiện công trình “Nếu Đi Hết Biển”, chẳng qua cũng là một loại công tác mà
Đảng và Nhà Nước Việt Cộng đã giao phó cho ông ta! Một “thằng Việt cộng”, dù có
đi tìm cha mẹ, anh em, vợ con, người yếu gì gì đi nữa, cũng phải bằng một ý thức
chính trị rất rõ ràng.
Loại công
tác “Thầy Mù Xem Voi” này, vốn đã được Trần Văn Thủy hơn một lần thi hành ở Âu Châu. Và cuốn phim mà Trần Văn
Thủy gọi là “phim tài liệu” cũng được chính Trần Văn Thủy đặt cho cái tên là
“Thầy Mù Xem Voi”… Phần Bốn của “Nếu Đi Hết Biển”. Hãy đọc do chính Trần Văn Thủy
xác nhận:
“… Nhưng sau
nhiều cố gắng, nhờ sự trung gian của bạn bè và có lẽ do ép-phê của Hà Nội Trong
Mắt Ai, Chuyện Tử Tế đã dược lưu hành rộng rãi khắp hải ngoại – hai bộ phim đó
bỗng dưng trở thành một giấy thông hành cho tôi dễ dàng tiếp cận với những người
Việt có xu hướng khác nhau sống ở nước ngoài.”
(NĐHB, trang
44)
Trong một
bài trước, tôi đã có định giá về sự tài bồi của Đảng và Nhà Nước cho Trần Văn
Thủy qua hai cuốn phim mà Thủy vừa nhắc bên trên. Chính Trần Văn Thủy đã xác nhận
hai cuốn phim Hà Nội Trong Mắt Ai và Chuyện Tử Tế là cái giấy thông hành cho Thủy
có cơ hội tiếp cận với người Việt tị nạn hải ngoại. Tuy nhiên, những Việt kiều
mà Trần Văn Thủy tiếp cận cũng chỉ là một tầng lớp nào đó “không có được một ý
thức chính trị rõ ràng”, hoặc đã được
nhà đạo diễn kheó léo “dàn dựng” đưa vào tuồng mà chẳng hề hay biết! Trần Văn
Thủy tiết lộ:
“Với dung lượng
trên 100 giờ băng chúng tôi đã quay trong dịp đó, ở hầu hết các thành phố lớn,
nhỏ mà người Việt sinh sống tại các quốc gia Tây Aâu kể trên. Chúng tôi đã tiếp
xúc với nhiều trí thức, văn nghệ sĩ, nhà khoa học, nhà giáo, linh mục, các bác
cao niên, viên chức, thương nhân, thuyền nhân và cả các quan chức và sĩ quan của
chính quyền miền Nam cũ…
Thông thường
thì chúng tôi bắt đầu công việc bằng cách nói những chuyện “khơi khơi”. Nói là
“khơi khơi” nhưng cái đích mà chúng tôi muốn đạt tới là đánh thức trong nhau sự
tin cậy, tinh thần khoan hòa và sự hướng thượng…
Phim tài liệu
vốn không đòi hỏi hư cấu và tưởng tượng như phim truyện, như viết tiểu thuyết.
Phim tài liệu tồn tại nhờ cuộc sống, mà “cuộc sống vốn là mẹ của chân lý” như
ai đó đã nói.
(NĐHB, trang
44)
“. . . . .
Nhưng về sau, càng nghĩ, tôi càng thấy rằng tôi không đủ sức để làm bộ phim với
tựa đề “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc”. . . . . . . . .
“Sau này tôi
nghĩ đến tựa đề “Thầy mù xem voi”. Tựa đề này đối với người lớn tuổi, ai cũng
hiểu rằng điều muốn nói ở bộ phim này không chuẩn xác gì cả, nó cũng như đùa bỡn,
nó cũng như hư thực.
. . . . . .
. .
“Thầy mù xem
voi” có hai tập. Tập I có tên là “Chuyện vặt xứ người”. . . . . . .
“Còn tập 2
tên là “Chuyện đồng bào”, “Chuyện đồng bào” gồm nhiều cảnh sinh hoạt, làm ăn
sinh sống, tâm sự, trò chuyện của rất nhiều người. Hầu hết những trao đổi đều
chân thành.”
(NĐHB, trang
45)
100 giờ băng
bao nhiêu thước phim? Để thực hiện 100 giờ băng, Trần Văn Thủy đã phải tốn bao
nhiêu ngày tháng cho việc vận động giao tế? Và danh sách những thành phần mà Trần
Văn Thủy đã “tiếp xúc” được, đã “nói chuyện” được, xem ra hầu như đầy đủ mọi tầng
lớp “đáng kể” trong cộng đồng Việt lưu vong. Tuy nhiên, những trí thức, những
văn ngệ sĩ, những linh mục.v.v.. này nọ mà Trần Văn Thủy đã tiếp xúc ở Tây Âu,
có phải chăng cũng chỉ là “một số người chọn lọc” nào đó mà những cán bộ văn
hóa nằm vùng ở hải ngoại đã “bắt tay” trước rồi giới thiệu cho Trần Văn Thủy?
Điều này tôi có quyền và có bổn phận phải NGỜ!
Bởi vì, với
những thành phần “có trí tuệ” như vừa kể trên, mà Trần Văn Thủy chỉ gặp để “nói
với nhau những chuyện khơi khơi”, thế này là thế nào? Những mục đích thực sự mà
Trần Văn Thủy nêu ra như “sự tin cậy, tinh thần khoan hòa và sự hướng thượng”
tôi tin làm nhiều người đọc đến đây phải bật phì cười!
Những cụm từ
như “sự tin cậy”, “tinh thần khoan hòa” và “sự hướng thượng”, tự bấy lâu, là những
thứ chữ nghĩa phù phiếm dưới chế độ và chũ nghĩa Việt Cộng.
Hãy nghe chị
Phùng Hồng Thúy, ra đi từ Hà Nội, hiện đang sống ở miền Bắc nước Đức, được Trần
Văn Thủy phỏng vấn:
“Chị hãy
giúp chúng tôi bằng cách là chị nói thật những gì chị đã trải qua”. Chị suy
nghĩ rồi bảo: “Ngay cả việc ấy cũng hết sức là khó vì từ bé tôi đâu có được học
nói thật bao giờ.”
(NĐHB, trang
47)
Ở một đất nước,
dưới một chế độ mà con người CHƯA BAO GIỜ biết nói thật là gì, làm sao con người
có với nhau được “sự tin cậy, tinh thần khoan hòa và sự hướng thượng”????
Không có được
“sự tin cậy” nhau, làm sao “khoan hòa” được với nhau? Không “tin cậy” nhau,
không khi nào “khoan hòa” cho nhau thì con người ta sẽ “hướng” tới sự lòn lọc,
lách né, gian xảo… nói tóm lại là tất cả những thủ đoạn chỉ để sinh tồn! “Hướng
thượng”, xem ra chỉ là hai mỹ từ vô nghĩa lý dưới chế độ và chủ nghĩa Việt Cộng!
“Cuộc sống vốn
là mẹ của chân lý”. Đúng vậy, tuy nhiên, phải là một cuộc sống như thế nào mới
được. Chứ sống lòn lọc, lách né, gian xảo, dàn dựng… thủ đoạn thì chẳng thể nào
sinh ra bất kỳ một thứ chân lý nào, dù là một thứ chân lý rác rến nhất!
Xin đọc một
đoạn trích của Trần Dần, một kiện tướng Nhân Văn Giai Phẩm trong “Ghi”:
“Có những kẻ
tourner. Một độ họ cố “làm ra tiến bộ”, làm ra đấu tranh. Làm ra không công thức.
Nhưng rồi cuộc sống lại trả họ về với nguyên hình: loài bò sát. – (…). – và làm
giấy bạc giả.
Tại sao bọn
giả mạo được tin hơn người thực thà? Tại sao loài bò sát lại được dùng nhiều? Tại
sao chúng có mặt ở cái thời đại này? Ở trong Đảng? Ở cách mạng? – Lạ lùng nhất
là tại sao không vạch mặt chúng ra?
. . . . . .
. . . .
Sống và viết
để đánh bọn giả mạo, bọn ì ạch, bọn mốc xì, bọn người-bệnh, bọn người-dòi, bọn
người-ụ. Anarchiste?
Nếu vậy gọi
là anarchiste thì tôi rất muốn là anarchiste. Cám ơn quần chúng đã tạo cho tôi
thành anarchiste như vậy!”
(Trần Dần,
Ghi 1954 – 1960. td mémoire 2001. Trang 75)
Cám ơn Trần
Dần! Từ bao lâu nay tôi đã tự nhận chính mình là một tên anarchiste!
Giả vờ không
công thức! Giả vờ vất bỏ chính kiến chính trị để thực hiện những mưu đồ chính
trị. Công tác của một “thằng Việt cộng” lòn lách, trườn bò vào cộng đồng Việt tị
nạn lưu vong. Trần Dần ở với Cộng Sản, sinh hoạt rồi bị đẩy ra ngoài sinh hoạt
của Đảng Việt Cộng… Nhưng vẫn sống oằn quại bi thảm dưới chế độ Việt Cộng. Tôi
hiểu được vì sao hồi đầu 54, tại sao Trần Dần đã “ghi” cái đoạn trên: Tại sao
loài bò sát lại được dùng nhiều? Tại sao chúng có mặt ở cái thời đại này? Ở
trong Đảng? Ở cách mạng? “… Và bọn làm bạc giả, xài bạc giả….
Thứ nhất, bạc
thật thì lấy đâu ra? Tất nhiên phải xài bạc giả. Phải làm bạc giả mới có “bạc
giả” mà xài. “Thầy Mù Xem Voi” hay “Nếu Đi Hết Biển”, nói cho cùng, cũng chỉ là
những tờ bạc giả… Có điều, Trần Dần đã nhầm. Quần chúng không phải là động cơ,
là nguyên lý đã tạo cho ông thành một tay anarchiste. Chính cái Đảng Việt Cộng
mà đã từng có lúc ông tin theo nó đã… hành ông ra nông nỗi!!!
Xin đọc Trần
Văn Thủy phỏng vấn bác Nguyễn Văn Quý:
“Câu hỏi thứ
nhất, tôi hỏi lý do và hoàn cảnh dẫn đến việc bác và gia đình sang định cư tại
Tây Đức. Thì bác đã nói rất rõ bác là viên chức cao cấp của chế độ cũ, cho nên
bác phải đi cải tạo rất cực. Khi được về lại Sài Gòn, với tư cách là phó thường
dân, hàng tuần bác phải đi trình diện, đấy là một điều rất đau khổ đối với bác,
vì thế bác không ở lại được. Qua câu hỏi ấy, người ta nhận biết chân dung của một
con người”.
(NĐHB, trang
46)
Tôi lại thấy
khác. Tôi thấy rằng sau câu hỏi của Trần Văn Thủy và câu trả lời của bác Nguyễn
Văn Quý nào đó, người ta thấy được chân dung của một chế độ!
Và cái chân
dung kinh dị, hãi hùng ấy, đã được tô đậm, khắc sâu cực kỳ rõ nét hơn ở câu hỏi
thứ ba của Trần Văn Thủy và câu trả lời cũng của bác Nguyễn Văn Quý:
“Vậy mà khi
qua câu hỏi thứ ba, tôi hỏi: “Bác có thể kể về những giấc mơ gần đây của bác được
không?” Tôi nghĩ rằng, nếu nói về phim tài liệu thì đây là đoạn đắc ý. Cái quái
ác là tuy đã sống ở nước ngoài rồi, mà bây giờ, đêm đêm nằm mơ, bác chỉ mơ thấy
hàng chục lần phải trở lại trại cải tạo. Sợ hãi, ú ớ, la hét: “Ơ… ơ… Tôi đã hết
hạn cải tạo rồi cơ mà! Đây, giấy ra trại của tôi đây. Tại sao cán bộ lại bắt
tôi trở lại trại?…”
(NĐHB, trang
46)
Lại một “Thằng
Người Có Đuôi” của Thế Giang Nguyễn Văn Quý!!! Cái sự hãi hùng, khốc liệt của một
Người Tù Cải Tạo nó là như thế… Nhưng Trần Văn Thủy đã “không cho” ông “bạn thiếu
thời Nguyễn Hữu Đính” của mình kể lại những ngày tháng ấy đã đành; Trần Văn Thủy
cũng không cho bác Nguyễn Văn Quý thân yêu này kể ra bất cứ điều gì sốt!!! Tại
sao? Chỉ có sự ám ảnh kinh hoàng đeo đẵng… Dụng tâm của Trần Văn Thủy là cái gì
“nó qua thì xin hãy quên nó đi…” (chú thích: dĩ nhiên là những cái gì đó bất lợi
cho sự tuyên truyền Đảng và Nhà Nước Việt Cộng!!!) Còn những hào quang, hương
hoa tốt đẹp cho Nhà nước và Đảng Việt Cộng như cái ngày Hồ Chí Minh đi xe
Peugoet hay Citroen gì đó, tiến vào rừng cờ và biểu ngữ ở Ba Đình thì cứ nên khắc
tâm ghi nhớ!… Những giấc mơ của bác Nguyễn Văn Quý là một bất ngờ cho Trần Văn
Thủy, sau khi đã điều nghiên cho bác Nguyễn Văn Quý nói về Cách Mạng Tháng Tám,
về ngày 2 tháng 9 năm 1945 cái quang cảnh của quảng trường Ba Đình… Trần Văn Thủy
đang ở vào giây phút “đắc ý” về đoạn phim mà ông đang quay… Nhưng sự vụ những
giấc mơ do ám ảnh về những ngày tù tội lao cải… mặc dù là bác Nguyễn Văn Quý
đang sống ở Tây Đức… đã làm Trần Văn Thủy… cụt hứng! Có thật vậy không? Hay cú
dàn dựng này lại là một tuyệt chiêu khác của Trần Văn Thủy!!! Đưa ra một bác
Nguyễn Văn Quý là cán bộ cao cấp của chế độ cũ. Bây giờ đang sống yên lành ở miền
Bắc nước Đức… Cho bác Nguyễn Văn Quý kể những lời “hào hứng, tình cảm, sinh động
và da diết về ngày 2 tháng 9, về cách mạng tháng Tám… rồi đưa ra nỗi ám ảnh về
những giấc mơ trở lại ở tù… Thông điệp của Trần Văn Thủy là: Những sự vụ “bỏ tù
cải tạo” quân dân cán chính miền Nam, đã là chuyện quá khứ… Bây giờ, đó chỉ còn
là những giấc mơ. Hiện thực là một cán bộ văn hóa Việt Cộng Trần Văn Thủy đang
thân ái quay phim , phỏng vấn “người cựu cán bộ cáo cấp miền Nam”, “người từng ở
tù lao cải”, người hiện đang sống an lành trên mảnh đất tự do miền Bắc nước Đức!
Và ở câu hỏi
thứ tư đặt với bác Nguyễn Văn Quý, Trần Văn Thủy đã chính thức đi vào vấn đề,
đi vào công tác đã được giao phó:
“Thế rồi tiếp
theo câu hỏi thứ tư: “về những người ham chống cộng một cực đoan, bác nghĩ thế
nào?” Tôi thấy nhiều người ngồi trước máy quay của tôi cũng rất ngần ngại khi
phải trả lời những câu hỏi trực tiếp. Nhưng ở đây, bác Quý lại là người có thái
độ thẳng thắn đáng kính trọng: “Tôi không thích những chuyện bạo lực, những
chuyện chính trị một cách hồ đồ, viển vông. Người ta chống Cộng kiểu sa lông,
phòng trà. Có kẻ còn tệ hại hơn là vận động, thu tiền bỏ túi mình để… chống Cộng…”
(NĐHB, trang
47)
Tiếc thay, nếu
tôi là bác Nguyễn Văn Quý, tôi sẽ hỏi ngược lại ông Trần Văn Thủy:
“Ông Trần
Văn Thủy, ông nghĩ thế nào về những kẻ cực ngu, vì cái chủ nghĩa, cái chế độ Việt
Cộng sau hơn nửa thế kỷ cho miền Bắc và gần ba mười năm cho miền Nam vẫn ù lì
và tiếp tục làm cho dân lầm than và cho đất nước tụt hậu, mà những kẻ cực ngu
này vẫn còn mê lầm theo cái chủ nghĩa, cái chế độ đó???”
Trần Văn Thủy
viết:
“Bây giờ ra
ngoài, đi nhiều, tiếp xúc nhiều, đọc nhiều, nhất là những báo chí chống Cộng cực
đoan, tôi thấy không ít chuyện kinh hoàng. Ai mà không theo mình thì giằn mặt,
đánh đấm hoặc bắn bỏ. Thế tôi mới ngờ rằng cái bệnh hiếp đáp nhau, giẫm đạp lên
nhau, bắt người khác phải phục tùng mình, phải chăng đó là bệnh của dân tộc Việt?
Nếu như đó là bệnh của một thể chế chính trị thì có thể sửa được, khi nó thay đổi
tích cực lên thì những điều xấu ấy mất đi. Nhưng nếu đó là khuyết tật của dân tộc
thì thật đau noun vô cùng. Đè nặng lên trong tôi vẫn là cái cảm giác dân tộc
mình khó mà khá lên được…”
(NĐHB, trang
49)
Tôi hoàn
toàn đồng ý với Trần Văn Thủy về những điều trên! Tôi vừa ghét vừa khinh bỉ những
gì cực đoan, hiếp đáp nhau, giẫm đạp lên nhau, bắt người khác phải phục tùng
mình..v.v… Nhưng xin Trần Văn Thủy dẫn chứng cho tôi trong cộng đồng Việt tị nạn,
bao nhiêu vu “ai mà không theo mình thì giằn mặt, đánh đấm, bắn bỏ”.v…v.. đã xảy
ra trong cộng đồng người Việt lưu vong??? Tổng số những vụ cực đoan trong cộng
đồng Việt tị nạn, có thể nào so sánh được với những vụ “ai mà không theo mình
thì nửa đêm tới nhà bắt đi bắn bỏ”, “hiếp đáp dân, bắt mọi người phải phục tùng
mình”… và sau tháng Tư 1975, rõ ràng nhất là đã bỏ tù lao cải hàng chục nghìn
người chỉ vì họ khác chính kiến với mình, những quân dân cán chính của miền
Nam… Rồi ngay cả những trí thức, tu sĩ của cả hai miền Nam Bắc sau 75 đã bày tỏ
lập trường, đòi dân chủ và đa nguyên hóa như Trí Siêu Tuệ Sĩ, như thầy Huyền
Quang Quảng Độ, như Tiêu Dao Bảo Cự Hà Sỹ Phu… và gần đây nhất như các người tuổi
trẻ Nguyễn Khắc Toàn, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình, Lê Chí Quang v.v…
Những trò “bịt
miệng dân chủ” của Đảng và Nhà Nước Việt Cộng như vậy khắp thế giới đều biết,
chẳng lẽ Trần Văn Thủy không biết tí gì hết? Trần Văn Thủy cho rằng, nếu đó chỉ
là cái bệnh của một thể chế chính trị thì có thể sửa được, khi nó thay đổi tích
cực lên thì những điều xấu ấy mất đi . Tạo sao Trần Văn Thủy không ở trong nước,
góp sức với những Nguyễn Khắc Toàn, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình, Lê Chí
Quang… cố làm cho cái thể chế chính trị Việt Cộng mà ông đang phục vụ nó sửa đổi
đi. Thay đổi tích cực để những điều xấu không còn nữa…
Những điều xấu
vẫn đầy ra đó trong đất nước Việt nam hiện nay. Yêu nước, muốn phục vụ đất nước,
Trần Văn Thủy không cần phải bôn ba ra hải ngoại đi làm “Một Anh Thầy Bói Mù”,
lang thang đi sờ mãi cái đuôi giả của một con voi thật! Phải, những gì mà Trần
Văn Thủy đã tiếp xúc, đã quay hàng trăm giờ băng, đã phỏng vấn và do William
Joiner in thành sách, đó chẳng qua chỉ là cái đuôi của con voi Việt kiều lưu
vong, mà là một cái đuôi giả!!! Xin đọc một đoạn của Trần Văn Thủy về buổi gặp
gỡ với một nhà báo Cộng sản Pháp:
“Hồi đó,
phóng viên tờ Đức-Việt tại Frankfurt đã hỏi tôi: “Thử nghĩ xa hơn một chút. Hiện
tình là vậy thì lỗi lầm bắt đầu từ đâu?” Thay vì trả lời, tôi kể lại một lần đối
thoại ngắn ngủi với một nhà báo Cộng sản Pháp. Trong một buổi chiêu đãi báo chí
tại Hà Nội cuối năm 1987, nhà báo nọ nâng ly chúc mừng hai bộ phim của tôi (Hà
Nội Trong Mắt Ai, Chuyện Tử Tế) được công chiếu. Rồi ông nhún vai bảo rằng:
“Nhưng công bằng mà nói, các ông đổ lỗi cho Chính phủ, cho Nhà nước của các ông
nhiều quá.” Tôi hỏi: “Ông là người ngoại quốc, có thể ông có cái nhìn tinh tế
hơn?” Ông ta lại nhún vai: “Cũng chẳng có gì đáng gọi là tinh tế cả. Phương
ngôn Pháp của chúng tôi có câu: “Nhân dân nào, Chính phủ nấy”. Các ông rất xứng
đáng với Chính phủ của các ông!”
(NĐHB, trang
49)
Quả tình những
người như Trần Văn Thủy rất xứng đáng với cái chính phủ và Đảng Việt Cộng!!!
Tuy nhiên, tôi muốn sửa câu phương ngôn Pháp lại như sau: “Trí thức nào, Chính
phủ nấy.”
Phải , đổ lỗi
cho toàn bộ những người dân, thì thiết nghĩ quả tình tội nghiệp cho những tầng
lớp dân đen thất học, ngu dốt, an phận, chịu đựng. Và không thể nào cất tiếng
nói. Chỉ những người trí thức, những nghệ sĩ, văn thi sĩ v.v.. mới có phương tiện mà mới biết mình cần
phải nói gì cho tiền đồ của đất nước, cho thân phận của toàn dân, và cho chính
cái thân phận trí thức của mình.
Trần Văn Thủy
đã bũa bao nhiêu là vòng rào trước khi bắt đầu vượt biển qua bên kia bờ.. Những
vòng rào chung quanh biển. Từ Chương Một Mấy Lời Rào Đón, Chương Hai Nếu Đi hết
Biển, Chương Ba Một Bức Thư, Chương Bốn Thầy Mù Xem Voi.v.v.. Và phần cuối của
Chương Bốn, khi mang những tay trí thức, nghệ sĩ thiên tả mê cộng sản kiểu viển
mơ như Trần Văn Khê, Điềm Phùng Thị, Lê Bá Đãng, Hoàng Xuân Hãn…ra “rào”, Những
Vòng Rào Chung Quanh Biển do chính Trần Văn Thủy bũa đã dày đặc, kín bưng!!!
Như vậy, xem
ra cho dù có “… Đi Hết Biển”, Trần Văn Thủy cũng chỉ sẽ đụng đầu và sẽ loanh
quanh bên trong những vòng rào mà chính Trần Văn Thủy đã dày công căng, chắn…
Trần văn Thủy vì thế, sẽ không bao giờ đi hết biển, sẽ vẫn mãi đứng ở cái làng
An Phú Nam Định như từ nửa thế kỷ trước. Sẽ chẳng biết khi nào thấy được cái Bờ
Bên Kia Của Biển.
Virginia May
5/2004
No comments:
Post a Comment