Tuesday, January 9, 2024

“Nếu Đi Hết Biển” (Hoang hai Thuy)

 

REPORT THIS AD

Đọc “Nếu Đi Hết Biển”

Posted on January 16, 2008 by bacthan

NẾU ĐI HẾT BIỂN, 196 trang, gồm một số bài phỏng vấn do người viết Trần văn Thủy thực hiện, ấn hành ở Hoa Kỳ Tháng 12 năm 2003, nhà “Thời Văn” xuất bản, trang 3 trong sách có hàng chữ “Chương trình nghiên cứu của University of Massachusetts Boston.” Trần văn Thủy là người từ Hà Nội đến Mỹ do lời mời của Trung Tâm William Joiner thuộc Đại Học Massachusetts Boston, là đạo diễn hai phim “Hà Nội trong mắt ai” và “Chuyện tử tế“. Việc thực hiện “Nếu đi hết biển” và xuất bản ấn phẩm ấy được Trung Tâm William Joiner chi tiền. Một người Việt Nam ở Mỹ là ông Nguyễn Hữu Luyện được nhiều người Việt ủy thác đứng ra kiện Trung Tâm William Joiner vì Trung Tâm ấy không vô tư trong việc nghiên cứu cộng đồng người Việt sống ở Mỹ để viết sách. Vụ kiện đang tiến hành.

Những người trả lời phỏng vấn của Trần văn Thủy trong “Nếu đi hết biển“: Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Nhật Tiến, Cao Xuân Huy, Nguyễn Mộng Giác, Hoàng Khởi Phong, Trương Vũ, Wayne Karlin, Tuyết và Chris.

Kewin Bowen, Giám đốc Trung Tâm William Joiner Nghiên Cứu về Chiến Tranh và Hậu Quả Chiến Tranh, Đại Học Massachusetts Boston, Nghiên Cứu Trưởng Chương Trình Rockefeller Nghiên Cứu về Tiến Trình “(Tái) Xây Dựng Diện Mạo và Quê Hương của Người Việt ở Nước Ngoài” 2000-2003, viết lời giới thiệu “Nếu đi hết biển“. Bài giới thiệu bằng tiếng Anh đi kèm bài được dịch ra tiếng Việt, trong đó có đoạn:

Những tác giả phỏng vấn là những nhà văn, những nhà tư tưởng sâu sắc đáng kính, với những tiếng nói đa dạng và phong phú. Nhà văn Nhật Tiến, Nguyễn Mộng Giác, Trương Vũ, Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Hoàng Khởi Phong, vv…đã trình bày một cách thẳng thắn và công khai về một số đề tài cấm kỵ (ta-bu) trong sinh hoạt chính trị ở hải ngoại cũng như Việt Nam, và ảnh hưởng của chúng trong lãnh vực sáng tác.”

Những tác giả phỏng vấn.. ” là câu dịch sai. Bản Anh ngữ “Those interviewed include the esteemed and profound of Vietnamese thinkers and writers..”: “Những người được phỏng vấn..”. “Những nhà văn, những nhà tư tưởng sâu sắc đáng kính” trong “Nếu đi hết biển” chỉ trả lời những câu hỏi. Cũng trong Lời Giới Thiệu có đoạn:

Chúng ta mang một niềm tri ân sâu sắc với những cá nhân đã dũng cảm đứng đầu gió để tham dự vào cuộc đối thoại này.

Trả lời vài câu hỏi, dù người hỏi có là người nước Bắc Cộng, mà người trả lời đang sống ở Mỹ Quốc cũng phải có “dũng khí ” ư ? Đao to, búa lớn quá dzậy? Mà “cuộc đối thoại” nào? Ai đối thoại với ai? Trong “Nếu đi hết biển“, những “nhà văn, những nhà tư tưởng sâu sắc” chỉ trả lời những câu hỏi của anh Cán Cộng, nếu có đôi lời nói qua, nói lại thì cũng chỉ quanh quẩn trong đề tài được người hỏi đưa ra; đây là “cuộc phỏng vấn”, gọi đây là “cuộc đối thoại”, qua nhận xét ngu dzốt của tôi, tôi e không đúng. Cũng không hẳn là cuộc phỏng vấn, nó như cuộc ông thầy xét bài học trò, đàn anh xét hỏi đàn em. Tôi sẽ kể ra vài đoạn trong Nếu đi hết biển để chư quí vị độc giả thấy những “nhân vật dũng cảm” đã trả lời phỏng vấn như thế nào, và những chuyện được hỏi trong “Nếu đi hết biển” là những chuyện gì mà gọi là những “đề tài cấm kỵ trong sinh hoạt chính trị ở hải ngoại?”

Advertisements

REPORT THIS AD

Về tên sách “Nếu đi hết biển” tác giả kể chuyện ngày xưa còn bé, ông có bà vú nuôi rất thân thương, bà vú không biết chữ a, b, c, bà chỉ nghe mà biết được nhiều chuyện, bà thường kể những truyện thơ nôm cho ông nghe. Một hôm ông hỏi bà từ làng ông cứ đi mãi, qua hết những làng ông biết tên trong vùng thì đi đến đâu, bà vú trả lời đi đến biển, ông lại hỏi đi hết biển thì đến đâu, bà vú trả lời đi hết biển thì đến đâu bà không biết. Tác giả nhớ mãi câu hỏi và câu trả lời ấy. Mấy chục năm sau ông biết là “nếu đi hết biển, qua các đại dương và các châu lục, đi mãi, đi mãi thì cuối cùng lại trở về quê mình, làng mình.” Đó là lời tác giả viết trong chương “Mấy lời rào đón” của “Nếu đi hết biển“.

Đến những năm ở vào cái tuổi tam thập nhi lập, ông Trần văn Thủy biết là cứ đi mãi người ta sẽ trở về chỗ người ta bắt đầu đi….. Kỳ diệu quá đỗi, trái đất tròn! Thưa ông Trần văn Thủy, nếu ông có lòng thương mà dậy cho bọn người Việt trốn nạn cộng sản chúng tôi biết chân lý trái đất tròn và sự kỳ diệu cứ đi mãi sẽ đến chỗ bắt đầu ra đi thì chúng tôi cám ơn ông. Nhưng dường như phát kiến ấy của ông, từ lâu rồi, từ thế kỷ trước, những em nhỏ Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa chỉ mới lên ba cũng đã biết.

Nhưng thôi, ta hãy nói đến chuyện phải chăng người viết muốn dùng việc “cứ đi mãi sẽ trở về chỗ bắt đầu đi” để nhắn nhủ, một cách kín đáo, những người Việt bỏ nước ra đi rằng mấy người đi mãi rồi mấy người cũng trở về nước. Trở về nước thì tôi đồng ý với ông tác giả “Nếu đi hết biển” – Nđhb– không phải chỉ mình tôi mà rất nhiều người Việt sống ở nước người muốn trở về nước và sẽ trở về nước mình, nhưng phải nói rõ: việc chúng tôi về nước không phải là việc chúng tôi chấp nhận chế độ cộng sản bạo trị trên đất nước chúng tôi, việc chúng tôi trở về nước không có nghĩa là chúng tôi chịu để yên cho bọn cộng sản tiếp tục đàn áp, bóc lột đồng bào chúng tôi, để yên cho bọn cộng sản tàn phá, hủy hoại đất nước chúng tôi. Nếu ông tác giả muốn nói bóng gió rằng cuối cùng chúng tôi phải trở về đầu phục bọn cộng sản, thì thưa ông, chúng tôi không thế đâu. Việc chúng tôi về nước là một nhục nhã cho bọn cộng sản cầm quyền. Vì chúng tôi có đô-la Mỹ chúng nó mới mở cửa đất nước cho chúng tôi về, chúng nó quì gối trước đồng đô-la Mỹ. Những đồng đô-la Mỹ chúng tôi có là những đồng đô-la sạch, chúng tôi phải làm việc đổ mồ hôi, sôi máu mắt ở Mỹ chúng tôi mới có những đồng đô-la ấy. Việc chúng tôi trở về nước làm bọn cộng sản mau chết, chúng đang ngắc ngoải, việc chúng tôi về nước không làm tổn hại gì đến chính nghĩa của chúng tôi. Coi việc người Việt ở nước ngoài về nước là việc chúng tôi chấp nhận, chúng tôi thỏa hiệp, chúng tôi đầu hàng bọn cộng sản là ngu xuẩn. Ông cha, chú bác, anh em chúng nó, bọn Cộng Việt, đã chết nhăn răng, chết thối ở khắp nơi trên thế giới, chúng nó đang chết, chúng tôi thỏa hiệp với những thằng gian ác, những thằng giết người khi chúng sắp chết làm ký gì? Chúng tôi mang đô-la Mỹ về nước cho chúng nó hộc máu chúng nó chết lẹ hơn, để đồng bào chúng tôi thấy mặt thật hèn hạ của chúng nó, để đồng bào chúng tôi sớm thoát cảnh khổ. Chúng tôi có thể về thăm nước nhưng chúng tôi vẫn mong thấy, không những chỉ mong, chúng tôi tin chắc, chúng tôi biết chắc có ngày đất nước chúng tôi không còn lá cờ đỏ máu nào, chúng tôi mong thấy, chúng tôi biết chắc sẽ có ngày bọn đảng viên đảng cộng sản bị nhân dân chúng tôi nhổ vào mặt, bợp tai, đá đít, đuổi đi. Chuyện ấy đã xẩy ra ở Nga, Tiệp, Hung, BaLan, Lỗ, Đức.. Chuyện ấy sẽ xẩy ra ở Việt Nam, chắc hơn bắp rang, chắc hơn cua gạch!

Advertisements

REPORT THIS AD

Tác giả “Nếu đi hết biển” đặt câu hỏi trong Chương Hai của sách:

Tôi không biết trong lịch sử thịnh suy của đất nước tôi có thời điểm nào, hoàn cảnh nào dẫn đến sự ly tán lòng người sâu thẳm, dẫn đến việc hàng triệu người chạy ra biển ly hương bất cần mạng sống đến như thế không?

Théc méc trên của tác giả Nđhb, em nhỏ lên ba Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa cũng giải tỏa được cái rụp: Trong lịch sử Việt Nam làm gì có cuộc nhân dân ra đi nào đau thương, bi thảm đến như cuộc nhân dân bỏ nước ra đi sau năm 1975. Không có vì trước năm 1945 nước Việt Nam không có bọn cộng sản cầm quyền. Trong lịch sử dân tộc Việt Nam có vài cuộc nội chiến nhưng không có bọn cầm quyền nào giết nhân dân tàn bạo, ác độc như bọn cộng sản. Vì bọn cộng sản giết chúng tôi, chúng tôi phải liều mạng ra đi. Chuyện dễ hiểu, dễ thấy quá, nhà đạo diễn điện ảnh không thấy hay sao mà phải théc méc?

Sau khi nêu théc méc trên, tác giả Nđhb viết tiếp:

Nhưng tôi biết rất rõ không ít người Việt xa xứ “qua các đại dương và các châu lục, đi mãi, đi mãi” mà cuối cùng không thể “trở về quê mình, làng mình” được.

Câu trên có hai nghĩa. Nghĩa đen là những người Việt ở hải ngoại không thể trở về được quê hương. Chuyện xẩy ra cho thấy những người Việt ở hải ngoại đã trở về nước, trở về đường hoàng, trở về và được đồng bào trong nước chào đón, quí mến. Không những chỉ trở về nước, người Việt hải ngoại còn trở về nước quá nhiều, quá đông, quá tưng bừng, quá dzui dzẻ, quá săng phú bọn cộng sản cầm quyền. Nhiều người Việt ở Mỹ về chơi Hà Nội, không thấy một ai trở về Mỹ kể chuyện họ đến thăm Lăng ông Hồ chí Minh. Sự có mặt của họ trong nước là bằng chứng cho nhân dân thấy chế độ dân chủ đi với chủ nghĩa tư bổn là tốt, chủ nghĩa cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa là hạng bét, là mẹc cà-đui, năm-bơ then! Tình trạng người Việt ở Mỹ về nước Việt Nam làm cho những người dân chủ-tư bổn Mỹ khoái chí nhất. Từ bao năm người Mỹ tốn bao nhiêu công sức, đổ bao nhiêu tiền của, bơ sữa vào nước Việt Nam để làm cho dân Việt biết lối sống Mỹ là tốt, ít nhất chế độ xã hội Mỹ cũng làm cho con người được no ấm, được sống thảnh thơi. Nay họ chẳng mất đồng đô-la teng nào, hàng hàng lớp lớp người Việt cứ phây phây về nước làm quảng cáo cho chế độ dân chủ của họ.

Nhưng chắc tác giả không muốn nói đến cuộc trở về theo nghĩa đen ấy, chắc tác giả muốn nói đến việc “có một số những người Việt xa xứ không bao giờ có thể trở lại là người Việt Nam”. Nhưng tại sao những người Việt ở nước ngoài lại không thể trở lại là người Việt Nam? Tất nhiên những thế hệ cháu chắt của những người Việt ra sống ở nước ngoài trong ba thập niên cuối của thế kỷ 20 sẽ trở thành công dân của quốc gia trong đó họ ra đời, quốc gia trong đó họ lớn lên. Nhưng lớp người Việt bỏ nước ra đi những năm 1980, 1990.., thế hệ người Việt như các ông Hoàng Khởi Phong, Nhật Tiến, bà Hoàng Bắc ..vv.. đã có bao giờ hết là người Việt Nam đâu? Và chúng tôi, những người Việt Nam phó thường dân đang sống ở Mỹ, chúng tôi vẫn là người Việt Nam, chúng tôi Việt Nam từ đầu ngón cẳng cái đến đầu sợi tóc bạc, có bao giờ chúng tôi không phải là người Việt Nam mà ông sợ chúng tôi sẽ không bao giờ có thể trở lại là người Việt Nam. Phải chăng ông muốn nói rằng “những người Việt không đầu phục bọn đảng viên đảng cộng sản sẽ không còn là người Việt Nam?” Nếu ông muốn nói như thế thì tôi chán ông quá! Bọn đảng viên đảng cộng sản mới không phải là người Việt Nam, chúng tôi là người Việt Nam, ít nhất chúng tôi cũng là người Việt Nam hơn bọn đảng viện đảng cộng sản.

Advertisements

REPORT THIS AD

Tác giả Nđhb viết trong cái gọi là “Mấy lời rào đón“:

Thưa bạn đọc!

Cho tôi được thưa “bạn”, tôi quan niệm đọc của nhau là bạn được rồi. Người cao niên hơn tôi, người ít tuổi hơn tôi đều được coi là bạn, bạn vong niên. Tôi thấy chữ “bạn” nó gần gũi, cổ xưa và thân thiện quá. Thật bất hạnh nếu như trên đời này ta không có bạn.

Rồi tôi bỗng giật mình, chợt nhận ra rằng, biết đâu, trong tình cảnh hiện tại của người Việt Nam ta, lỡ có người giận dữ mà rằng: “Thằng Việt Cộng! Ai bạn bè với mày!” Thế là tôi chột dạ, lại phải cân nhắc sao cho phải.

Làm gì có chuyện cứ “đọc của nhau” – rõ hơn và đúng ngôn ngữ Việt Nam hơn là “đọc bài viết của nhau” – là “bạn nhau“. Còn lâu, thưa ông đạo diễn! Tôi đặt lại câu hỏi: “Anh Việt Cộng! Anh coi tôi là bạn anh hồi nào?” Khi tôi sống trong nước, có lúc nào anh coi tôi là bạn anh không? Không những chỉ không, anh còn coi tôi là thằng phản động, thằng có tội với chế độ, tôi chỉ không ưa Đảng anh vì Đảng anh đày đọa nhân dân, Đảng anh làm nhân dân đau khổ, anh bỏ tù tôi mút mùa Lệ Thủy, anh muốn tôi chết trong tù, anh bắt tôi phải nhận tôi “có tội với nhân dân, có tội với tổ quốc!” Sau bao năm tù đày tôi may mắn không chết, tôi bánh xe lãng tử sang được xứ Mỹ, người Mỹ thương hại tôi, họ cho tôi sống bình yên ở xứ họ, cho tôi sống nhờ họ, họ nuôi tôi, nuôi vợ tôi, anh theo tôi sang Mỹ và anh gọi tôi là “bạn”! Dễ và giản dị thế sao anh? Anh coi chúng tôi là thứ người gì? Anh có thể nói “bỏ tù anh đâu phải tôi!” Không phải đích thân anh thì đám anh em anh bỏ tù tôi, anh em anh là anh. Anh cướp nhà tôi, anh cho tôi vào tù, anh đuổi mẹ tôi, vợ con tôi ra nằm vỉa hè, anh hạ nhục tôi, anh bôi cứt lên mặt tôi, anh đè ngửa vợ tôi ra anh chơi, anh lột truồng con gái tôi anh hiếp, anh không cho con tôi đi học, anh đẩy con tôi sang chết mất xác ở Kam-pu-chia..! Thế rồi bi giờ ở xứ Mỹ anh hiền khô, anh gọi tôi là “bạn” anh. Anh tử tế quá anh. Và anh chờ đợi tôi lỏn lẻn nhận anh là “bạn” tôi? Thưa anh Việt Cộng, anh có điên không anh? Nếu anh không điên, tôi sợ anh ngu. Trước khi anh bả lả, anh òn ỉ với người nào, anh cũng phải nhớ xem anh từng đối xử với người ta ra làm sao chứ! Tôi sẽ xấu hổ lắm nếu tôi có người đảng viên đảng cộng sản là bạn.

Thật bất hạnh nếu như trên đời nay ta không có bạn..” Đúng vậy, thưa ông đạo diễn. Thường thì lý do làm ta không có bạn là vì ta đểu quá, ta ăn ở chó má quá nên người ta không ai thèm làm bạn với ta. Ông viết như thế có sợ bọn đầu xỏ Cộng chúng nó nghĩ ông chửi xéo chúng nó không? Khi những ngụy bạo quyền cộng sản các nước Đông Âu theo nhau xuống cống, khi tượng Thánh tổ Lê-nin bị người Nga tròng xích sắt vào cổ, kéo ra cho nằm ở bãi rác, khi vợ chồng Chủ Tịt Sô-xét-cu xứ Ru-ma-ni bị dân Lỗ kê súng vào đầu bắn bỏ, khi “đồng chi Hô-nách-cơ vĩ đại” của bọn cộng Hà Nội bỏ đảng chạy lấy người, khi Chủ Tịt Na-dzi-bu-la xứ A-gha-ni-tan bị lôi ra treo cổ.., tôi nghĩ đến chuyện như thế này là anh Thiến Heo kiêm Hoạn Lợn Đỗ Đít hết chỗ đi chơi rồi! Trên trái đất chỉ còn loe nghoe, leo heo mấy nước còn bọn cộng sản cầm quyền: bọn Tầu Cộng thì ghét cay, ghét đắng bọn Việt Cộng, hai thằng từng đánh nhau thằng hộc máu mồm, thằng sồm máu mũi, Miên Cộng, Lào Cộng không ưa Việt Cộng, Bắc Hàn Cộng không có tình nghĩa gì với bọn Bắc Việt Cộng, Bắc Việt Cộng chỉ còn có Cu Ba là bồ tèo. Mà Cu Ba thì đói dzài, đói dzẹt, đói teo… Cu..Ba, teo luôn Cu Bốn, Cu Năm, Cu Cộng nào cũng teo ráo trọi. Bắc Việt Cộng nhẵn thín không còn có bạn!

Advertisements

REPORT THIS AD

Nhà đạo diễn viết trong “Mấy lời rào đón“:

Trên tay quí vị và bạn đọc không phải là một cuốn sách. Chắc chắn là như vậy, chứ chẳng vì khiêm tốn giả vờ. Nói đến sách, người ta thường chờ đợi trong đó: tri thức, văn chương, tư tưởng hoặc học thuật.

Từ đầu năm 2001 một số nhà nghiên cứu người Việt, người Mỹ đã động viên tôi và viết thư giới thiệu tôi với Trung Tâm William Joiner để tôi có thể tham gia viết một cái gì đó. Quả thực là bởi nhiều lẽ, tôi rất ngần ngại. Sau rồi, nghĩ lại, không đi thì tiếc, cuối cùng tôi cũng đã có mặt trên đất Mỹ dài dài. Tôi đã đi nhiều nơi, gặp nhiều người, tới trên hai chục trường đại học và thành phố thuyết trình, hội thảo và chiếu mấy bộ phim tài liệu của chúng tôi đã làm. Rồi công việc đưa đẩy, tôi lui tới nước Mỹ nhiều lần, bay trên ba chục chuyến bay trong nội địa nước Mỹ. Tôi thấy được nhiều điều và cũng vỡ ra được nhiều điều. Nếu bén gót được đệ tử, cháu chắt cụ Nguyễn Tuân thì tôi có thể dám viết một cuốn sách với tựa đề “Nước Mỹ rong chơi”. Viết được thế mới sướng. Nhưng tôi đã lỡ theo cái nghiệp, cái cách làm phim tài liệu và chỉ có cái nhìn rất hạn hẹp, rất mộc mạc của người làm phim tài liệu.

(…..)

Bởi vậy, đây thuần túy chỉ là những ghi chép thô sơ từ cuộc sống, từ công việc của tôi cùng với những ý kiến đóng góp, trao đổi trong tình thân của một số quí vị mà tôi được coi là bạn.

Vậy, nếu ai muốn tìm kiếm những điều cao siêu về tư tưởng, văn chương hoặc soi mói những điều kém cỏi về lập trường, quan điểm xin hãy bỏ qua, đừng đọc tiếp.

Quyển sách là quyển sách, chỉ có chuyện nó là quyển sách hay hay nó là quyển sách dzở. Nếu “Nếu đi hết biển” không phải là quyển sách thì nó là cái gì? Chúng tôi, một số người Việt tị nạn cộng sản sống ở Mỹ, nếu chúng tôi đọc “Nếu đi hết biển“thì không phải để tìm trong đó những điều cao siêu về tư tưởng, văn chương, mà là vì trong đó các anh nói với nhau về chúng tôi, chúng tôi đọc để xem các anh nói với nhau những gì về chúng tôi. Anh không thể chửi bố người ta rồi trâng tráo nói không thích thì đừng nghe, anh không thể viết chửi mẹ người ta rồi lởm khởm bảo người ta đừng đọc.

Và “Rong chơi nước Mỹ” có lẽ đúng tiếng Việt hơn là “Nước Mỹ rong chơi.” Nhưng thôi, nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ ấy, chúng ta hãy xem những người bạn của tác giả Nđhb nói những gì về chúng ta.

Trong những nhà văn, những nhà tư tưởng sâu sắc kiêm bạn hữu của tác giả Cán Cộng Trần văn Thủy Nđhb, hình như, chỉ có ông Cao Xuân Huy là người có qua mấy năm tù cải tạo, còn tất cả đều không ai phải qua một ngày tù đày nào ở quê nhà; ông Hoàng Khởi Phong chạy thoát trước ngày 1 tháng Năm 1975, các ông bà khác đều là thuyền nhân vượt biển đến Mỹ. Hai ông Nguyễn Mộng Giác, Nhật Tiến vượt biên nhưng giờ đây đã có tác phẩm tiểu thuyết được ấn hành và bán ở trong nước. Và theo lời tác giả Nđhb, tất cả các ông bà ấy đều là bạn của tác giả. Khi đã là bạn nhau người ta thường không nói với nhau những chuyện có thể làm mất lòng nhau. Muốn biết sự thật về một cộng đồng người, huỵch toẹt là muốn biết người ta nghĩ gì về mình, về phe đảng mình, mà chỉ hỏi những người bạn mình thì chán chết. Không những chỉ chán mà đó còn là việc làm ngớ ngẩn. Đại đa số người Việt ở Mỹ căm thù cộng sản, muốn thấy nước nhà thoát ách cộng sản cầm quyền, người dân được hưởng tự do, dân chủ, tìm hiểu tâm trạng những người đó mà lại đi hỏi những người có cảm tình với cộng sản thì hỏi làm quái gì cho mất thì giờ! Anh có thể nói “Tôi thích hỏi ai tôi hỏi. Anh không có quyền bắt tôi phải hỏi người này, không được hỏi người kia!” Đúng dzậy. Tôi cũng có quyền nói: “Muốn biết tâm trạng chúng tôi, muốn biết tại sao chúng tôi căm thù cộng sản, tại sao chúng tôi không muốn thấy bọn đảng viên cộng sản theo chúng tôi đến xứ Mỹ, tại sao chúng tôi không ưa bọn bám đít cộng sản, sao anh không hỏi thẳng chúng tôi? Sao anh không phỏng vấn những người của chúng tôi như Doãn Quốc Sĩ, Võ Phiến, Nguyễn Văn Chức? Sao anh không hỏi Xuân Vũ – anh đến Mỹ từ năm 2001, Xuân Vũ mới qua đời tháng 12, 2003 – anh có thể hỏi Xuân Vũ “Anh viết Đường đi không đến.. Tháng 5, 1975, đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn của chúng tôi nói “Chúng ta đã đi và chúng ta đã đến”. Bây giờ anh nói sao? Chúng tôi đến hay chúng tôi không đến?” Sao anh không hỏi Nguyễn Chí Thiện: “Sống ở Mỹ sáu, bẩy năm rồi, anh đã làm được những gì ở Mỹ, anh có hối tiếc đã bỏ nước ra đi không, bây giờ anh nghĩ gì về những người cộng sản chúng tôi, bây giờ anh muốn đất nước mình sẽ như thế nào? Anh có muốn về nước không?” Sao anh không hỏi hai bà chủ báo của chúng tôi là bà Nhã Ca và bà Hoàng Dược Thảo? Tôi chắc hai bà chủ báo ấy sẽ nói với anh nhiều điều có ích cho anh hơn. Giản dị nhất và hay nhất, hợp lý nhất là sao anh không gặp, không hỏi ngay ông Nguyễn Hữu Luyện, người đứng đơn kiện Trung Tâm William Joiner? Sao anh không hỏi ông Luyện một câu cần hỏi như “Sao ông chống Trung Tâm William Joiner?” Muốn “hòa giải” với những người chống mình thì việc cần làm, việc phải làm là nói chuyện ngay với những người chống mình, muốn “hòa giải” với những người chống mình mà lại chỉ lẹo tẹo hỏi chuyện những người bạn mình thì hỏi làm quái gì cho mất thì giờ! Theo tôi, câu anh cần hỏi nhất là “Các anh muốn những người cộng sản chúng tôi làm những gì để các anh có thể hợp tác với chúng tôi trong việc đem hạnh phúc đến cho nhân dân ta?” Đến Mỹ, anh có thể ngỏ ý muốn gặp ông Nguyễn Hữu Luyện, ông Nguyễn Chí Thiện, gặp để nói chuyện. Như thế mới là chuyện đối thoại có ích. Nếu hai ông kia không chịu gặp anh, anh có quyền nói: “Hai ông ấy không dám gặp tôi.”

Advertisements

REPORT THIS AD

Thưa ông đạo diễn Trần văn Thủy, ông sang Mỹ, ông đi chỗ nọ, chỗ kia bằng tiền của Trung tâm William Joiner, quyển “Nếu đi hết biển” được in ra bằng tiền của Trung tâm William Joiner, xin ông cho biết quyển ấy có được phát hành trong nước Việt Nam bị bọn cộng sản cầm quyền hay không? Hay quyển ấy chỉ được bán ở Mỹ? Nếu quyển ấy được in ra chỉ cốt để cho người Việt ở Mỹ đọc thôi thì thưa ông, tôi thấy có thể là ông đã làm phí một khoản tiền của Trung tâm William Joiner. Trong “Nếu đi hết biển” không có chuyện gì về đám người Việt ở Mỹ chúng tôi mà chúng tôi chưa biết. Chỉ là những lời sỉ vả, nhiếc móc, rè bỉu, những lời khinh bỉ chúng tôi đầu óc chật hẹp, ngu xuẩn, thua, bỏ chạy mà không biết thân, vẫn hung hăng con bọ xít la hét đả đảo cộng sản, cũng chỉ là những lời chê chúng tôi nhỏ nhen, chia rẽ, ghen tị, chụp mũ, vu cáo. Không oan, thưa ông, quả thật là chúng tôi có những cái tật tồi tàn như thế. Chúng tôi vẫn thường tự sỉ vả chúng tôi về những cái tật hèn mọn ấy. Nhưng hình như không chỉ riêng chúng tôi tệ mạt như thế mà dân tộc nào cũng có những cái tật nhỏ nhen, ti tiện, vu cáo, ghen tị, chia rẽ, đểu cáng.. Nhiều dân tộc còn đểu, còn khốn nạn hơn chúng tôi. Chắc ông cũng biết chuyện sau khi bọn cộng sản mất quyền, những kho hồ sơ mật ở Nga, ở Đức Cộng được khui ra, có những vụ bạn hữu, anh em, vợ chồng tố cáo nhau, vu cáo nhau là phản động, có những người đi tù mút chỉ cà tha, những người chết thảm trong tù vì bị bạn, bị chồng, bị vợ tố cáo với bọn mật vụ. Chúng tôi biết chúng tôi có những cái xấu đó, nhưng chúng tôi có cái hay là chúng tôi chống Cộng sản; là nạn nhân của bọn cộng sản, chúng tôi căm thù chúng, ra xứ người ba mươi mùa tuyết rơi rồi chúng tôi vẫn không nguôi lòng căm thù bọn cộng sản, chúng tôi kiêu hãnh vì tính chất không thay đổi ấy của chúng tôi.

Chúng tôi căm thù bọn cộng sản không phải chỉ vì những đau khổ cá nhân mà chúng tôi phải chịu, chúng tôi căm thù chúng vì chúng đày đọa đồng bào của chúng tôi, chúng tôi phải đuổi chúng ra khỏi chính quyền vì chúng còn cầm quyền ngày nào là nhân dân chúng tôi còn khổ ngày đó, chúng tôi không thể hợp tác với chúng vì chúng không hợp tác với chúng tôi, chúng bắt chúng tôi phải đầu phục chúng, mà chúng thì đã thất bại thê thảm trong việc mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân. Thực ra bọn cộng sản chưa lúc nào nghĩ đến chuyện mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân. Nhưng đó là một đề tài khác.

Advertisements

REPORT THIS AD

Filed under: Nếu Đi Hết Biển | 28 Comments »

Chống Cộng? Trò Nhảm Nhí!

Posted on January 16, 2008 by bacthan

Đây là bài thứ hai tôi viết về quyển “Nếu đi hết biển“, tập phỏng vấn của Cán Cộng Trần văn Thủy, nhà đạo diễn hai phim “Hà Nội trong mắt ai” và “Chuyện tử tế“. Trần văn Thủy người Hà Nội, được Trung Tâm William Joiner mời sang Hoa Kỳ. Trung Tâm William Joiner thuộc Trường Đại Học Massachusetts Boston, có chương trình nghiên cứu về cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản sống ở Hoa Kỳ để viết sách. Vì Trung Tâm William Joiner mướn những cán bộ Bắc Việt Cộng làm cuộc nghiên cứu để viết sách ấy làm nhiều người Việt Nam tị nạn sợ kết quả cuộc nghiên cứu sẽ không được trung thực nên họ phản đối. Trung Tâm William Joiner làm ngơ, không để ý gì đến ước muốn ấy của cộng đồng người Việt nạn nhân của cộng sản nên cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ đã nạp đơn nhờ chính quyền Hoa Kỳ can thiệp vào vụ Trung Tâm làm việc không vô tư, việc kiện được ủy thác cho ông Nguyễn Hữu Luyện, nhân vật được coi là một “người tù kiệt xuất” của Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa. Mọi khoản chi về việc Trần văn Thủy đến Hoa Kỳ và đi nhiều nơi ở Hoa Kỳ, gặp và phỏng vấn nhiều người Việt, tiền in quyển “Nếu đi hết biển” đều do Trung Tâm William Joiner đài thọ.

Trong Nếu đi hết biển – Nđhb – đạo diễn Trần văn Thủy phỏng vấn các ông Nhật Tiến, Cao xuân Huy, Nguyễn mộng Giác, Hoàng khởi Phong, Trương Vũ và bà Nguyễn thị Hoàng Bắc. Các vị vừa kể được Kevin Bowen, Giám Đốc Trung Tâm William Joiner, gọi là “những nhà văn, những nhà tư tưởng sâu sắc đáng kính, với những tiếng nói đa dạng và phong phú…, những cá nhân dũng cảm đứng đầu gió..vv..” và được tác giả Nđhb gọi là “bạn“:

Nếu đi hết biển. Trang 19.

Bởi vậy, đây thuần túy chỉ là những ghi chép thô sơ từ cuộc sống, từ công việc của tôi cùng với những ý kiến đóng góp, trao đổi trong tình thân của một số quí vị mà tôi được coi là bạn.”

Ta hãy xem những nhà văn, những nhà tư tưởng sâu sắc đáng kính của Trung Tâm William Joiner nói những gì khi họ trả lời những câu hỏi của người đến Mỹ từ Hà Nội. Trước hết đây là vài chuyện vặt trong Nđhb:

Chương Ba Nđhb, tác giả kể chuyện ông nhận được thư của một người bạn từ những năm xửa, năm xưa khi ông là cậu học trò tiểu học ở thị xã Nam Định. Năm 1954 ông bạn ông tránh họa cộng sản, di cư vào Nam, nhập ngũ Quân Đội Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, sau Tháng 4, 1975 bị đi tù cải tạo, 1978 được thả về, nhờ bà vợ lai Pháp được cùng vợ con sang Pháp năm 1983, sang sống ở Canada năm 1992. Đây là một đoạn trích trong Chương Ba Nếu đi hết biển:

Nđhb, Một bức thư.Trang 40.

Đầu tháng 10 năm 2002 tới Boston, tôi liền gọi điện thoại cho Đính và bạn tôi từ Montréal đã nhào sang. Ôm lấy nhau, nhìn vào mặt nhau, già rồi, già thật. Nhưng bạn tôi vẫn hiền lành, điềm đạm như ngày xưa. Cái đêm hội ngộ hiếm hoi trong đời sau nửa thế kỷ chờ đợi ấy, một thằng Việt Cộng và một thằng Ngụy nằm chung một phòng, chuyện trò râm ran đến tận khuya.

Advertisements

REPORT THIS AD

Một thằng Việt Cộng và một thằng Ngụy nằm chung một phòng, chuyện trò râm ran..! Thân tình, ngang hàng, hòa hợp hòa giải quá chừng chừng. Nhưng làm ơn nhớ dùm đây là chuyện xẩy ra năm 2002 ở thành phố Boston, nước Mỹ, tiền phòng khách sạn do thằng Mỹ trả hoặc do thằng Ngụy trả nếu thằng Ngụy mướn phòng. Làm ơn nhớ dùm nếu chuyện xẩy ra ở trong nước thì thằng Ngụy hốc hác, ho hen, hom hen, đói dzài, đói dzẹt, đói lõ đít, đau khổ, tuyệt vọng, nằm dzẹp lép trong trại tù khổ sai Bùi Gia Mập hoặc Xuyên Mộc, Xuân Phước, Gia Trung, thằng Việt Cộng béo núc nằm phây phây trong phòng lạnh khách sạn Palace, Kim Đô, Tân Sanh ở Sài Gòn tang thương đầy cờ đỏ, còn lâu thằng Việt Cộng nó mới ôm hun thắm thiết thằng Ngụy. Năm 2002, 26 năm sau ngày quân Bắc Cộng chiếm thành phố Sài Gòn, ở xứ Mỹ, thằng Việt Cộng vẫn gọi người bạn thân thưở ngày xưa còn bé của nó là thằng Ngụy! Thân phận thằng Ngụy, dưới mắt thằng Việt Cộng, khốn nạn, bệ rạc quá chừng. Không biết người bị thằng bạn Việt Cộng của ông gọi là “thằng Ngụy” trong tập “Nếu đi hết biển” nghĩ sao khi đọc những giòng chữ thằng Việt Cộng bạn xưa của ông gọi ông là “thằng Ngụy!”!

Chương Bốn Nđhb. Thầy mù xem voi, có đoạn viết về ông Hoàng Xuân Hãn ở Paris. Đạo diễn Trần văn Thủy, tác giả Nđhb, nhiều lần đặt máy quay phim trong nhà riêng của ông Hoàng Xuân Hãn, để phỏng vấn và quay phim ông bà chủ nhà cùng nhiều nhân vật Việt được mời.

Nếu đi hết biển. Trang 53, 54.

Trước ống kính máy quay, ông (Hoàng Xuân Hãn. CTHĐ viết thêm cho rõ) cũng đã trầm tư kể lại những mất mát to lớn của gia đình ông ở quê nhà trong thời kỳ cải cách ruộng đất. Ông đặc biệt quan tâm đến sự thịnh suy của nông thôn Việt Nam. Ông nói:

– Sau cải cách ruộng đất đã có sửa sai. Ông cụ đã nhìn thấy cái sai. Vậy là may. Cái hậu quả của sai lầm trong cải cách ruộng đất không chỉ trên bình diện kinh tế, chính trị, văn hóa. Theo chỗ tôi hiểu, cái mất mát lớn nhất bởi những sai lầm trong cải cách ruộng đất là nó đã phá vỡ mất nông thôn Việt Nam và phá vỡ mất lòng tin.

“… đã có sửa sai. Ông cụ đã nhìn thấy cái sai. Vậy là may..!” Mèn ơi..May ký gì không biết nữa! Nó đã giết không biết bao nhiêu đồng bào vô tội của nó rồi nó nói nó sai và để nó sửa sai. Nó sửa hay không sửa thì các nạn nhân của nó cũng đã chết thảm! Cái nhà ông được gọi là “học giả” này phải chăng là “học giả giả?” Câu nói lẩm cẩm của ông đến em nhỏ lên ba nó nghe cũng không lọt lỗ tai nó. Cứ làm sai, cứ làm chết người, cứ giết cà trăm ngàn người, rồi tỉnh queo nói giết người như thế là sai, thôi không giết người theo kiểu ấy nữa, là xong, là làm đúng, là tốt? Là không có tội gì cả? Đâu có dễ thế được! Chỉ có bọn cộng sản mới làm và nói ngạo ngược như thế. “Ông cụ” của ông HX Hãn đây là anh già Hồ chí Meo, chính danh thủ phạm vụ Việt Cộng giết người ở Bắc Việt trong vụ án mạng tập thể gọi là vụ cải cách ruộng đất, chính danh thủ phạm vụ Việt Cộng giết người tập thể ở Huế Tết Mậu Thân. Anh già “Ông cụ” giết người ấy phải bị nhân dân lôi cổ ra pháp trường xẻo thịt chứ không chỉ lép nhép nói vài lời sửa sai là xong, như nhân dân Lỗ dí súng vào đầu vợ chồng tên Chủ Tịt Đảng Lỗ Cộng Sô-xét-cu bắn bỏ, như nhân dân Ác-ga-nít-tan treo cổ tên Na-dzi-bu-la, Chủ Tịt Đảng Ác cộng. Tội của Sô-xét-cu, Na-dzi-bu-la còn nhẹ hơn tội của anh già “Ông cụ” trong “Nếu đi hết biển.” Phúc bẩy mươi đời cho “học giả”, ông sống gần như cả đời ông ở nước Pháp, ông mà sống ở trong nước Bắc Cộng sau năm 1954 thì đời ông – bảo đảm chăm phần chăm – nát như cái mền Sakymen không khác gì đời tư các ông Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Hữu Đang, Phan Khôi!

Advertisements

REPORT THIS AD

Chương Sáu. Trò chuyện với nhà văn Nhật Tiến. Trang 71.

Trần Văn Thủy: Vậy hẳn là chủ trương hòa hợp và hòa giải dân tộc mà anh đã theo đuổi từ lâu, cũng nằm trong cái tâm thức hướng về dân tộc ấy?

Nhật Tiến: Đúng vậy! Tôi chưa và cũng chẳng bao giờ lại chủ trương hòa giải, hòa hợp với độc tài hay bạo lực.

Đương sự nói ông không “hòa giải, hòa hợp với độc tài hay bạo lực”, nhưng ông đã làm một số việc, nói một số lời, để người Việt hải ngoại nghĩ là ông cộng tác với bọn Việt Cộng. Như vậy phải chăng ông thấy bọn Việt Cộng không phải là bọn đôc tài, là bọn không dùng đến bạo lực trấn áp, giết tróc nhân dân?

Chương Bẩy Nđhb. Nguyễn Thị Hoàng Bắc. Trang 79, 80.

Trần Văn Thủy (TVT): Xin chị nói cho đôi điều về tiểu sử của chị?

Hoàng Bắc (HB): Anh cần “lý lịch” hay là “trích ngang”?

TVT: Chị vui tính thật, nhưng đừng gây sự với tôi. Độc giả muốn biết về chị, đôi chút cũng được.

HB: Theo anh, tôi nên bắt đầu từ lúc nào đây? Bắt đầu từ cái mốc năm 75 nhé, vì trước đó ba mươi năm, cuộc đời tôi cũng na ná như tất cả mọi người khác: sinh ra, lớn lên, học hành, làm việc, lập gia đình, sinh con, đẻ cái.. vv.. có lẽ.. cái cuộc đời nhàm chán! Tháng Ba năm 75, tôi đang dậy học ở Nha Trang thì xẩy ra cái gọi là biến cố năm 75. Sau đó người miền Nam đặt tên là ngày “Quốc Hận”, miền Bắc gọi là ngày “Giải Phóng”.

TVT: Tôi nghĩ có lẽ không hẳn là như thế. Tôi thấy có nhiều người gốc miền Bắc gọi là ngày “Quốc Hận”. Thí dụ những người nổi tiếng như ông Nguyễn Cao Kỳ, Trần Kim Tuyến, Cao Văn Viên, Vũ Văn Mẫu, Phan Huy Quát, Lê Nguyên Khang, Trần Văn Tuyên. Ngược lại có nhiều người gốc miền Nam gọi là ngày “Giải Phóng”. Thí dụ ông Lê Duẩn, ông Tôn Đức Thắng, ông Phạm Văn Đồng, ông Phạm Hùng, ông Huỳnh Tấn Phát, ông Nguyễn Hữu Thọ, ông Võ Văn Kiệt, ông Phan Văn Khải, ông Trần Văn Giàu, ông Trần Bạch Đằng.. Đó là những “anh Hai” thứ thiệt.

Tác giả Nđhb chơi chữ khi nói đến những tiếng Quốc Hận, Giải Phóng và người Nam, người Bắc. Người hỏi và người trả lời đã không thấy, hay làm như không thấy, không có, tình trạng sau năm 1954 thực sự có hai nước Việt Nam: Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa và nước Bắc Cộng, văn huê lòng thòng lỏng thỏng là nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Những người Quốc Gia VNCH gọi ngày 30 Tháng Tư 1975 là ngày Quốc Hận; bọn Huỳnh Tấn Phát, Phạm Hùng, Nguyễn Hữu Thọ ..vv.. sinh trưởng trong miền Nam nhưng bám đít bọn Bắc Cộng, những tên ấy bị nhân dân Quốc Gia VNCH khinh bỉ, bị ngay cả bọn Bắc Cộng cũng khinh bỉ, những tên đó không đáng được nói đến. Những nhân vật Quốc Gia VNCH chỉ được tác giả Nđhb “cho” một tiếng “ông”: “…như ông Nguyễn Cao Kỳ..” rồi sau đó kể tên trống không: “..Trần Kim Tuyến, Cao Văn Viên, Vũ Văn Mẫu.. vv..” Các nhân vật nước Bắc Cộng được kính trọng gọi bằng “ông“, mỗi trự đều có tiếng “ông” đi trước tên: “..ông Lê Duẩn, ông Tôn Đức Thắng, ông Phạm Văn Đồng..” Và còn chỉ rõ: “.. Đó là những “Anh Hai” thứ thiệt” để phân biệt với những nhân vật Quốc Gia VNCH mà tác giả cho là bọn “anh Hai” giả mạo. Trong số những nhân vật Quốc Gia VNCH kể tên trên đây có hai ông đã chết thảm trong lao tù cộng sản: ông Phan Huy Quát chết trong Nhà Tù Chí Hòa, ông Trần Văn Tuyên chết trong trại tù khổ sai ở xứ Bắc Cộng.

Advertisements

REPORT THIS AD

Bà Nhà văn Nguyễn Thị Hoàng Bắc có cái may mắn không bị bọn Việt Cộng cho dzô tù ngày nào nên bà nói không đúng lắm về cái quái thai gọi là “lý lịch trích ngang” được dùng trong nhà tù Việt Cộng. Không có “trích ngang” suông mà có “lý lịch” và “lý lịch trích ngang”, tức khai vắn tắt.

Nđhb. Trang 81.

TVT: Thế chị qua đây bằng đường nào?

HB: Tôi thuộc diện vượt biển. Sau 1975, tôi được giữ lại dạy ở trường gọi là giáo viên lưu dụng, và vẫn luôn được nhắc nhở rằng, khi Hitler lên cầm quyền ở Đức đã ra lệnh sa thải và cầm tù hoặc giết tất cả các giáo viên chế độ cũ, tôi đã được nhà nước lưu dụng (nghĩa là không đuổi dạy, tha không bỏ tù, không giết!)

Ba mươi mùa cóc chín trước đây cô giáo đã được “Nhà nước”, tức Đảng, ưu ái tha không bỏ tù, không giết, cho dạy học tiếp tục! Ơn Đảng với cô như trời cao, biển rộng. Uổng quá. Được Đảng sương đến sế thao cô giáo không ở nại với Đảng, cô giáo nại xuống thuyền cô giáo vượt biên cô giáo sang Mỹ? Cô giáo đẻ bọc điều nên cô vượt biên an toàn, dễ dàng, cô một chuyến rời gót ngọc xuống thuyền bỏ nước ra đi là xong ngay, cô không bị bọn công an VC Nhà Bè, Phước Tỉnh, Vũng Tầu, Phan Thiết, Rạch Giá, Cà Mâu nó tó, nó choàng cái bảng “Phản quốc” lên ngực cô, nó dẫn cô đi biểu diễn ở chợ, cô không bị nó tống lên Trại Đồng Xoài vài mùa sầu riêng trổ gai cho cô có dịp cải tạo cô thành người tốt, cô không phải thọc đôi bàn tay ngọc của cô vào thùng nhào cứt người với nước tiểu người cho nhuyễn để bón rau xanh; cô bềnh bồng vượt biển sang Mỹ, bọn Mỹ nó có mời cô dậy học, dậy hành chi đâu! Để rồi gần ba mươi mùa hoa li-ki-ma trổ bông sau người ta phải vất vả sang tận Mỹ Quốc tìm cô để phỏng vấn cô. Cái chuyện cô kể cô “vẫn luôn luôn được nhắc nhở rằng, khi Hitler lên cầm quyền ở Đức đã ra lệnh sa thải và cầm tù hoặc giết tất cả các giáo viên chế độ cũ..” nghe rùng rợn quá cô. Chuyện ấy chắc là do những cán bộ Bắc Cộng “lên lớp” các thầy cô giáo viên Quốc Gia VNCH, có phải không ạ? Chắc cô, với tư cách giáo viên Quốc Gia VNCH bại trận được lưu dụng, còn có dịp nghe các vị cán bộ Đảng ta dậy về hai nước Một Răng, Một Rắc đánh nhau chí tử, được cán bộ Đảng ta khuyên “Cái gì của Xê I A thì trả cho Xê I A!”, được cán bộ Đảng ta cho biết “trong thời gian lính Mỹ ở Sài Gòn, Sài Gòn có 500.000 – năm trăm ngàn – phụ nữ làm điếm Mỹ!”

Năm 1984, 1985, trong Nhà Tù số 4 Phan Đăng Lưu, Nhà Tù Chí Hòa, nhiều tổ chức chống Cộng bị bắt trong có tổ chức do ba ông Phạm Quang Cảnh, luật sư, ông Nguyễn Quốc Sủng, giáo sư, ông Lê Công Minh, kỹ sư, đứng đầu. Năm 1986 tổ chức ấy bị đưa ra tòa. Bọn chánh án tay sai xử án tử hình Luật sư Phạm Quang Cảnh, xử án chung thân Giáo sư Nguyễn Quốc Sủng, chung thân Kỹ sư Lê Công Minh. Trước toà, khi tên chánh án tay sai hỏi Lê Công Minh:

– Trước đây bốn năm, anh nói anh không sống chung với cộng sản. Nay anh nói thế nào?

Advertisements

REPORT THIS AD

Người tù chính trị Lê Công Mình trả lời:

– Nay tôi vẫn nói như thế!

Đã tuyên án Lê Công Minh chung thân khổ sai, nghe Lê Công Minh trả lời như thế, tên chánh án tay sai lập tức nâng án Lê Công Minh lên tử hình.

Sau khi xử tử Luật sư Phạm Quang Cảnh, chúng hạ án của Lê Công Mình xuống tù chung thân khổ sai. Năm 1985, 1986 Lê Công Minh và tôi cùng ở Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu, cùng ở Nhà Tù Chí Hòa nhưng không chung phòng. Năm 1989 tôi gặp Lê Công Minh ở Trại Tù Khổ Sai Z 30 A, tôi có dịp trò chuyện với Minh. Minh cho biết trong Tuyên Ngôn của nhóm anh có câu:

– Bọn phát-xít và bọn cộng sản khác nhau ở điểm bọn phát- xít quí trọng nhân dân nó, bọn phát-xít đàn áp, bóc lột, giết tróc nhân dân các nước khác, bọn cộng sản thù ghét nhân dân nó, bọn cộng sản đàn áp, bóc lột, giết tróc nhân dân của chính nó, bọn cộng sản giết đồng bào nó.

Khi Lê Công Minh nói câu đó, tôi lặng người. Chưa bao giờ tôi nghe lời kết tội bọn cộng sản đúng đến như thế. Tối mùa mưa ở trại tù cộng sản giữa rừng, trong tiếng gió từ núi Chứa Chan thổi tới, tôi bùi ngùi nói với Lê Công Minh:

– Các anh kể tội chúng nó đúng quá như thế, chúng nó phải giết các anh thôi!

Sau khi kể “Nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa” không bỏ tù bà, vẫn để bà dậy học, bà Hoàng Bắc kể chuyện Hít-le Ria Cá Chốt khi lên cầm quyền ở Đức quốc, đuổi hết giáo viên Đức ra khỏi trường, bỏ tù và giết các giáo viên Đức! Người đọc bà có dịp thấy Hít-le Ria Cứt Mũi ác độc quá chời, “Đảng ta” đối xử nhân đạo quá chời với bọn giáo viên Ngụy. Nhưng thưa bà, nếu bọn Cán Cộng ngu dzốt kể chuyện Hít-le làm như thế mà bà tin đó là chuyện thật thì tôi phi-ní lô đia, tôi hết nước nói về sự hiểu biết của bà.

Trong “Nếu đi hết biển“, bà nhà văn Nguyễn Thị Hoàng Bắc nói như sau về cộng đồng người Việt ở Mỹ và về cuộc chống Cộng của người Việt ở Mỹ:

Nđhb. Trang 87, 88, 89.

TVT: Bây giờ nếu có thể được, ta nói chuyện một chút về Cộng đồng người Việt ở Mỹ. Thí dụ, chị có thể phác họa vài nét về Cộng đồng người Việt ở Mỹ, thí dụ chị có tham gia các Hội Đoàn, các sinh hoạt có tổ chức ở trong vùng chị ở, Virginia, hay trên nước Mỹ không? Chị thấy các sinh hoạt đó như thế nào? Đối với thế hệ chị và đối với thế hệ con em chị ở hải ngoại?

HB: Tôi đề nghị anh đọc Unbearable Lightness of Being của Milan Kundera (mà một người bạn của tôi là Trịnh Y Thư đã chuyển ngữ rất hay, sách vừa do NXB Văn Nghệ California phát hành dưới cái tên “Đời Nhẹ Khôn Kham”) để anh dễ thâm nhập và nhận diện bộ mặt của cộng đồng Việt ở hải ngoại.

Kundera viết quyển này lấy bối cảnh Mùa Xuân Praha năm 1968 và các nhóm di dân Tiệp vào thời điểm đó. Đến nay, trải qua mấy chục năm rồi, giọng điệu, ngôn ngữ, suy tư của đám di dân Tiệp vẫn còn có thể dùng để mô tả được chính xác hình ảnh các hội đoàn chống Cộng của người Việt rải rác và đầy rẫy ở các nước Mỹ, Pháp, Úc, Canada. Lâu lâu lại phải đọc tuyên cáo này, tuyên cáo nọ, lên án bọn cộng sản trong nước và tay sai ngoài nước. Lâu lâu lại có vụ đốt một quyển sách hay hăm dọa một nhà xuất bản nào đó đã dám bày bán quyển sách thiên cộng kia, biểu tình mấy chục ngàn người để chống một tên tâm trí bất bình thường không đủ tiền và đủ sức để kinh doanh nghiêm chỉnh nên chơi nổi treo hình Bác Hồ và cờ Việt Cộng, lâu lâu lại có biểu tình lẹt đẹt vài người hay tự thiêu, ủi xe tăng vào Sứ quán Việt Cộng.

(……)

Nên tôi không ngạc nhiên mấy khi đọc các diễn văn, tuyên ngôn, tuyên cáo cùng các bài báo ở các loại báo biếu lá cải, các nhân vật cộng đồng tố cáo, mạ lỵ, chụp mũ tưng bừng lẫn nhau, người oan, kẻ ưng, cá mè một lứa. Trung tâm William Joiner tặng cái grant anh Thủy đang làm đó cũng gây ra một vụ kiện, đang đưa nhau ra ba tòa quan lớn Mỹ đấy, chắc anh có nghe rồi! Tôi cũng nghe, nhưng nghe qua rồi bỏ. Anh có nhận xét gì không?

Advertisements

REPORT THIS AD

Tội nghiệp quá chừng! Cả chục ngàn người Việt mất nước sống nhờ ở Mỹ, ông bà già chỉ có mỗi tháng mấy trăm tiền SSI, anh chị trẻ khuân vác Giant, Safeway, chùi rửa cầu tiêu Mỹ lương 5 đô 50 xen một giờ, chắt chiu người 50, người 100 đô, gom góp làm thành khoản tiền để mướn luật sư Mỹ cãi cho mình ở trước tòa án Mỹ. Những người Việt khốn khổ ấy không có cách tự bảo vệ quyền lợi của mình nào khác ngoài việc trông mong ở pháp luật Mỹ. Họ chỉ muốn nói có một câu: “Thưa quí ông William Joiner, mấy ông viết sử về chúng tôi, chúng tôi cám ơn, nhưng làm sử về chúng tôi mà các ông nhờ bọn đảng viên đảng cộng sản viết thì oan chúng tôi lắm. Thưa quí ông, bọn đảng viên đảng Cộng sản Việt họ thù chúng tôi lắm, họ đã thẳng tay bỏ tù, giết chết nhiều anh em chúng tôi ở trong nước chúng tôi. Nhân dân chúng tôi khổ vì họ lắm lắm. Để họ viết về chúng tôi ở Mỹ, họ sẽ mô tả chúng tôi với những hình ảnh, những lời lẽ rất khốn nạn, rất bẩn thỉu, rất đểu giả. Con cháu chúng tôi khi đọc những sách sử các ông nhờ bọn cộng sản viết về chúng tôi, chúng sẽ khinh bỉ chúng tôi. Vì sợ như thế nên chúng tôi nhờ ba tòa quan lớn Mỹ đèn trời Mỹ soi xét dùm chúng tôi”. Đáng thương cho họ hơn nữa là việc họ nhờ pháp luật Mỹ quốc bảo vệ bị bà nhà văn Nguyễn Thị Hoàng Bắc nhắc đến bằng lời lẽ khinh bỉ: “Trung tâm William Joiner tặng cái grant anh Thủy đang làm đó cũng gây ra một vụ kiện, đang đưa nhau ra ba tòa quan lớn Mỹ đấy, chắc anh có nghe rồi! Tôi cũng nghe, nhưng nghe qua rồi bỏ.”

Đau chứ! Bọn cộng sản nó thù ta, nó nói, nó viết những lời khinh thị ta, nó chửi ta, ta không đau, ta tỉnh queo, nhưng nghe những người cùng sống với ta, những người ta tưởng là cùng phe ta, nói những lời khinh bỉ ta, ta đau chứ. Nhưng thưa bà nhà văn, bà nói những người Việt tị nạn cộng sản chúng tôi trong những năm 2000 này giọng điệu, ngôn ngữ, suy tư giống y như những người Tiệp tị nạn cộng sản năm 1968, chúng tôi cũng làm những trò chống Cộng mà bà cho là nhảm nhí như những người Tiệp đã làm: lâu lâu ra một tuyên cáo kể tội cộng sản, đốt một quyển sách, hăm dọa một nhà xuất bản, biểu tình lẹt đẹt vài người, tự thiêu, ủi xe tăng vào sứ quán cộng sản…vv… Thưa vâng, bà nhà văn nói đúng, quả thật chúng tôi đã, chúng tôi đang, chúng tôi sẽ làm mãi những cái trò mà bà cho là nhảm nhí ấy, chúng tôi sẽ làm những trò ấy cho đến bao giờ bọn đảng viên cộng sản Việt bị nhân dân chúng tôi nhổ vào mặt, bợp tai, đá đít, đuổi đi. Cám ơn bà, được bà làm phúc nhắc cho chúng tôi lên tinh thần ra rít. Những người Tiệp tị nạn Tiệp Cộng phải bỏ nước đi sống lưu vong đã làm những cái trò bà coi là nhảm nhí ấy, vậy mà cuối cùng họ đã thực hiện được ước mơ vàng son một đời của họ: đuổi bọn đảng viện cộng sản Tiệp ra khỏi chính quyền, họ đã nhổ vào mặt, bợp tai, đá đít bọn đảng viên cộng sản trong nước họ, họ đã trở về đất nước của họ trong hạnh phúc và vinh quang, đất nước họ sạch boong không còn bóng thằng cộng sản nào, một người trong bọn họ bị bọn cộng sản bỏ tù nay là Tổng Thống của họ.

Ôi.. Ước gì chúng tôi sớm được hưởng cái hạnh phúc mà những người Tiệp chống Cộng đã được hưởng! Những gì đã xẩy ra ở Nga, Hung, Tiệp, Lỗ, Ba Lan sẽ xẩy ra ở Việt Nam quê hương chúng tôi. Nhất định thế! Ở Nga Lê-nin đã ra nằm ở bãi rác, ở Việt Nam Hồ Chí Meo sẽ ra nằm ở bãi rác. Chỉ có điều nhiều người trong chúng tôi không còn bao nhiêu thời gian sống nữa, chúng tôi người sáu bó, người bẩy bó, có nhiều người tám bó, chín bó, chúng tôi mong ngày hạnh phúc đó sớm đến, chúng tôi mong được thấy đất nước chúng tôi sạch bóng cờ đỏ, đất nước chúng tôi không còn thằng đảng viên cộng sản nào trước khi chúng tôi đi ra khỏi cõi đời này.

 

No comments:

Post a Comment